Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TỤNG PALI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TỤNG PALI. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

PHÉP THỌ TRÌ TAM QUY, NGŨ GIỚI, BÁT QUAN TRAI & PHÉP NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT



PHÉP LỄ BÁI - 
NAMASSAKĀRA 

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (3 lần)
Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Đức BHAGAVĀ đó, Ngài là bậc ARAHAṂ  cao thượng, được chứng quả Chánh-Biến-Tri, do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (3 lần)


PHÉP THỌ TRÌ TAM QUY VÀ NGŨ GIỚI


Ukāsa, mayaṃ (ahaṃ) bhante, visuṃ visuṃ rakkhan’atthāya, tisaraṇena saha pañca-sīlani yācāma.
Dutiyam’pi...Ukāsa mayaṃ Bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaranena saha atthaṅgasamannāgataṃ uposathaṃ yācāma.
Tatiyam’pi...

Bạch quá Đại đức Tăng, chúng con xin thọ trì Tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích.
Bạch quá Đại đức Tăng, chúng con xin thọ trì Tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ nhì.
Bạch quá Đại đức Tăng, chúng con xin thọ trì Tam qui và ngũ giới nơi Tam bảo để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ ba.


Vị thầy đọc phần truyền Tam Qui và Ngũ giới, Phật tử đọc theo.

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammā Sambuddhassa.(3 lần)


Con đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Bhagavā đó, Ngài là bậc Arahaṃ cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (3 lần, lạy)

TAM QUY

Buddhaṃ saranaṃ gacchāmi.

Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.
Dhammaṃ saranaṃ gacchāmi.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp
Saṅghaṃ saranaṃ gacchāmi.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.
Dutiyampi… (lần thứ nhì)
Tatiyampi… (lần thứ ba)

Thầy truyền giới đọc: Phép quy y Tam Bảo tròn đủ chỉ có bấy nhiêu
Phật tử thọ giới đọc: Ama bhante – Dạ, xin vâng.

PHẦN NGŨ GIỚI


1. Pāṇ’ātipātā veramaṇī sikkhā-padaṃ samādiyāmi.
2. Adinn’ādānā veramaṇī sikkhā-padaṃ samādiyāmi.
3. Kāmesu-micchācāra veramaṇī sikkhā-padaṃ samādiyāmi.
4. Musā-vādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi
5. Surā-meraya-majja-ppamāda-ṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà dâm.
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi, uống rượu và các chất say.

Thầy truyền giới đọc:

Imāni pañca sikkhā-padāni sādhukaṃ katvā appamādena niccakālaṃ sammārakkhitabbaṃ.

Chư thiện tín sau khi thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới nơi Tam Bảo hãy cố gắng vâng giữ hành theo cho được trong sạch đến trọn đời, chẳng nên dễ duôi.

Phật tử thọ giới đọc: Ama bhante – Dạ, xin vâng.

Thầy truyền giới đọc:
Sīlena sugatiṃ yanti,
Sīlena bhogasampadā,
Sīlena nibbutiṃ yanti,
Tasmā sīlaṃ visodhaye.


Tất cả chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giải thoát nhập Niết-bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, nên chư thiện tín hãy cố gắng thọ trì giới luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ.

Phật tử thọ giới đọc: Ama bhante – Dạ, xin vâng.


PHÉP THỌ TRÌ BÁT QUAN TRAI GIỚI

Ukāsa mayaṃ Bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaranena saha atthaṅgasamannāgataṃ uposathaṃ yācāma.
Dutiyam’pi mayaṃ….
Tatiyam’pi mayaṃ ….



(PHẦN TAM QUI giống như THỌ TRÌ NGŨ GIỚI ở trên)

PHẦN BÁT QUAN TRAI GIỚI


1. Pāṇ’ātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Adinn’ādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi
3. Abrahma-cariyā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
4. Musā-vādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Surā-meraya-majja-ppamāda-ṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
6. Vikāla-bbhojanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
7. Nacca-gīta-vādita-visūka-dassanā, mālā-gandha-vilepana-dhāraṇa-maṇḍana-vibhūsana-ṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
8. Uccā-sayana-mahā-sayanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

1. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
2. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
3. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự thông dâm.
4. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
5. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu và các chất say.
6. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự ăn sái giờ.
7. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự múa haut, thổi kèn, đờn, xem múa hát, nghe đờn kèn, trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng hoa.
8. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa chỗ nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp.

Người thọ giới đọc tiếp:

Imaṃ aṭṭh’aṅga-samannāgataṃ Buddhappaññattaṃ uposathaṃ imañca rattiṃ imañca divasaṃ sammad’eva abhirakkhituṃ samādiyāma.

Con xin thọ trì Bát quan trai giới trọn đủ tám điều của Đức Phật đã giáo truyền, hầu để vâng giữ hành theo cho được trong sạch trọn ngày nay và đêm nay, mong cầu gieo được giống lành để thấy rõ Niết Bàn trong ngày vị lai.

Thầy truyền giới nói:

Imāni aṭṭha-sikkhā-padāni sādhukaṃ katvā appamādena niccakālam sammārakkhitabbaṃ.

Phật tử đọc: Āma bhante - Dạ, xin vâng.

Thầy truyền giới đọc:

Sīlena sugatiṃ yanti,
Sīlena bhogasampadā,
Sīlena nibbutiṃ yanti,
Tasmā sīlaṃ visodhaye.


Tất cả chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, tất cả chúng sanh được giải thoát nhập Niết-bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, nên chư thiện tín hãy cố gắng thọ trì giới luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ.

Phật tử thọ giới đọc: Ama bhante – Dạ, xin vâng.

.http://www.trungtamhotong.org/thuvien/index.php?module=mucluc&function=detail&id=384


-ooOoo-


CHI CỦA NGŨ GIỚI


GIỚI SÁT SANH CÓ 5 CHI:

1- Chúng sanh có thức tánh (Pāṇo).
2- Biết chúng sanh có thức tánh (Pāṇa-saññitā).
3- Tính giết (Vadhakacittaṃ).
4- Rán sức giết (Upakkamo).
5- Chúng sanh chết bởi sự ráng sức ấy (Tena-maranaṃ).

GIỚI TRỘM CẮP CÓ 5 CHI:

1- Vật có chủ gìn giữ (Parapariggahitaṃ).
2- Biết rằng vật có chủ gìn giữ (Paraparig-gahitasaññitā).
3- Tính trộm cắp (Theyyacittaṃ).
4- Rán sức trộm cắp (Upakkamo).
5- Trộm cắp được bởi rán sức ấy (Tenaha-ranaṃ).

GIỚI TÀ DÂM CÓ 4 CHI:

1- Người nữ không nên tà dâm, nghĩa là gái có người gìn giữ (Agamanīyatthānaṃ).
2- Tính tà dâm với gái đó (Tasmiṃseva nā citaṃ).
3- Rán sức tà dâm (Upakkamo).
4- Ðã tà dâm (Maggena maggappatī pādanaṃ).

GIỚI NÓI DỐI CÓ 4 CHI:

1- Ðiều không thật (Atathaṃ vatthu).
2- Tính nói dối (Visaṃ vādanacittaṃ).}
3- Rán sức nói dối (Tajjovāyāmo).
4- Ðã làm cho người tin chắc lời nói dối ấy (Parassa tadatthavijānanaṃ).

GIỚI ẨM TỬU CÓ 4 CHI:

1- Rượu (Majjanīyavatthu).
2- Tính uống (Pātukaṃ yatācittaṃ).
3- Rán sức uống rượu ấy (Tajjovāyāmo).
4- Ðã uống rượu ấy khỏi cổ (Tassa pānaṃ).

CHI CỦA GIỚI BÁT QUAN TRAI


Các chi trong giới sát sanh, trộm cắp, nói dối, uống rượu đều giống trong ngũ giới.

GIỚI THÔNG DÂM CÓ 4 CHI:
1- Trong 30 khiếu (Xem trong Luật Xuất gia, quyển nhất, chỗ "hành dâm" - điều học Bất cộng trụ thứ nhất) (Bhedanavatthu).
2- Tính thông dâm (Sevanacittaṃ).
3- Rán sức thông dâm (Tajjovāyāmo).
4- Ðã thông dâm (Maggena maggappati-pādanaṃ).

GIỚI ĂN SÁI GIỜ CÓ 3 CHI:
1- Sái giờ (là từ chinh xế đến mặt trời mọc) (Vikālo).
2- Vật thực được phép ăn trong giờ (Yāvakālikaṃ) (từ mặt trời mọc đến đứng bóng).
3- Ðã ăn khỏi cổ (Ajjhoharanaṃ).

GIỚI MÚA HÁT, ÐỜN KÈN, XEM MÚA HÁT, NGHE ÐỜN KÈN, ÐIỂM TRANG NHAN SẮC, NHỨT LÀ XỨC DẦU THƠM, DỒI PHẤN, ÐEO TRÀNG HOA CÓ 6 CHI:
1- Múa hát, đờn kèn (Naccagītādi).
2- Tính làm (Kattukamyatācittaṃ).
3- Ði nghe hoặc xem và đã nghe hoặc đã xem (Sutadassanatthāyagamanaṃ).
4- Vật để trang điểm nhứt là tràng hoa (Mālādi).
5- Cố ý dùng đồ trang điểm nhan sắc (Dhāranacchandatā).
6- Ðã dùng đồ trang điểm mà trang sức (Tassa dhāranaṃ).

GIỚI NẰM NGỒI CHỖ QUÁ CAO VÀ XINH ÐẸP CÓ 3 CHI:
1- Nơi nằm ngồi quá cao và xinh đẹp (Uccāsayanamahāsayanaṃ).
2- Tính nằm hoặc ngồi (Paribhogacittaṃ).
3- Ðã nằm hoặc đã ngồi (Paribhogakara-naṃ).
Khi thiện tín đã phạm đều đủ chi trong mỗi giới gọi là dứt giới, bằng phạm chưa đủ chi, chỉ gọi là giới bất tịnh.

HẠN KỲ TRONG PHÉP THỌ GIỚI BÁT QUAN TRAI
Nếu luận về ngày kỳ, thì giới Bát Quan Trai chia ra làm hai cách:
1) Phép bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm (Pakati uposatha).
2) Phép bát quan trai thọ trì thêm ngày rước và ngày đưa (Paṭijāgara uposatha).
Bát quan trai thọ trì trong một ngày, một đêm có 8 ngày trong mỗi tháng: ngày 5, 8, 14, 15, 20, 23, 29, 30, tháng thiếu thì ngày 28 và 29.
Bát quan trai thọ thêm ngày rước và ngày đưa, có 12 ngày trong mỗi tháng: ngày 1, 4, 6, 7, 9, 13, 16, 19, 21, 22, 24, 28 tháng (thiếu ngày 27): trong 12 ngày ấy đều là ngày trước và sau liên tiếp 8 ngày bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm.


GIẢI TÓM TẮT VỀ HAI CÁCH THỌ TRÌ BÁT QUAN TRAI
Trong bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm ấy, thiện tín phải đối trước mặt thầy Tỳ Khưu hoặc Sa Di, mà xin thọ giới mỗi khi đến ngày kỳ.
Trong bát quan trai thọ trì thêm ngày đưa và ngày rước, Thiện tín phải trau giồi đức tánh, tưởng nhớ tám điều học, trong 12 ngày đưa rước, chỉ phải giữ mình, lánh xa ngũ trần để chờ ngày đặng xin thọ trì bát quan trai 1 ngày, 1 đêm cho thêm sự tinh khiết, không buộc phải đi thọ giới nơi thầy Tỳ Khưu hoặc Sa Di.
Phép bát quan trai thọ trì 1 ngày 1 đêm, dạy phải đối trước mặt thầy Tỳ Khưu hoặc Sa Di mà xin thọ trì tám điều học; đến khi mãn một ngày một đêm ấy, chỉ phải giữ gìn không cho phạm đến tám điều học, nhưng không buộc phải xin thọ giới.
Khi Phật còn tại thế có truyền phép bát quan trai 6 ngày trong mỗi tháng, là ngày 8, 14, 15, 29, 30, (tháng thiếu thì 28, 29).
Sau khi Phật tịch diệt được 4 tháng, có cuộc đại hội nhóm 500 vị A La Hán. Ðại Ðức Ma ha Ca Diếp làm tọa chủ để kết tập kinh luật, thấy còn cách khoảng (từ 15 đến 20 từ 30 tới mùng 8), các Ngài định thêm ngày 5 và 20 để làm phép bát quan trai trong mỗi tháng có tám ngày.

VIỆC NÊN LÀM
Thiện nam, Tín nữ đã xin thọ giới bát quan trai 1 ngày 1 đêm, trong mỗi kỳ, nếu muốn được trọn phước thì phải giữ gìn thân và khẩu cho trong sạch, y như lời Phật đã truyền răn.
Muốn cho thân được tinh khiết phải tránh xa các nghiệp nghệ trong ngày ấy, nhứt là nghề ruộng rẫy, mua bán, vì là việc làm cho giới bất tịnh.
Muốn cho khẩu được trọn lành, phải ngăn ngừa những lời nói vô ích, nói đến thế sự; nhứt là biện luận về cơm, gạo, tốt, hay xấu, xứ này xứ kia có nước đục hay trong, y phục dày hay mỏng, nam nữ nhiều hay ít, v.v...; phải nói về điều lành là bàn luận về phép thọ ngũ giới, bát quan trai giới, và món quả báo của sự trì giới, tham thiền, trí huệ và nghe thuyết pháp. Trước khi niệm Phật tham thiền phải suy nghĩ về các tội của ngũ dục bằng cách sau này:
Sắc, thinh, hương, vị, xúc năm món trần ấy, đều làm cho mình mắc phải nhiều sự phiền não luôn luôn. Hoặc suy gẫm về cái thân ngũ uẩn, cho thấy rõ là vô thường, khổ não, vô ngã; nó sẽ tan rã do nhiều duyên cớ, nhứt là bị thời tiết; nó chỉ làm cho mình phải lao khổ, nó sẽ tan rã tự nhiên, nó chẳng có chi là quí trọng cả; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng đều là vô thường, khổ não, vô ngã như sắc uẩn vậy.
Lại suy gẩm thêm về phép động tâm:
Tất cả chúng sanh trong vũ trụ, chẳng có một ai mà mình nương nhờ được dầu là cha mẹ, vợ chồng, con trai, con gái, bậu bạn hoặc gia tài cũng đều là khổ, đều là không phải là chỗ nương nhờ, không có một ai chia sự vui, sự buồn hoặc thay thế cái đau, cái chết cho mình được.
Nếu mình đã tạo nhân dữ, thì mình phải mang quả khổ; bằng làm lành thì được hưởng quả vui, cái khổ hoặc cái vui nó chỉ đến cho một mình ta: dầu có của cải bao nhiêu cũng không thể đem theo được, nếu suy gẫm như thế đó rồi, thì sẽ thấy cả trong vũ trụ đều không có chỗ nhờ; chỉ có ân đức Phật, Pháp, Tăng; chỉ có phép bố thí, trì giới, tham thiền, trí tuệ, là đáng cho mình nương theo, thì mình sẽ được tiếp dẫn trong kiếp vị lai chẳng sai vậy. Nếu đã suy gẫm như vậy rồi ắt sẽ được tỏ ngộ, cảm mến đến ân đức Tam Bảo, dùng 10 hiệu của Phật để niệm tưởng.
Ðức Phật có dạy cách niệm như sau này: phải tìm nơi thanh vắng ngồi kiết già hoặc bán già cho ngay thẳng thong thả tâm cho thanh tịnh mà niệm.

PHÉP NIỆM PHẬT CÓ BA CÁCH
1 - Phải tưởng "Itipi so bhagavā arahaṃ , sammāsambuddho... " cho đến "Bhagavā"rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối, cho đủ 10 hiệu Phật. Tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt; tùy sức của mình (Xem hiệu Phật nơi chương Ân Ðức Phật Bảo).
2 - Phải tưởng "So bhagavā itipi arahaṃ so bhagavā itipi sammāsambuddho..." cho đến "So bhagavā itipi bhagavā " rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối cho đủ 10 hiệu của Phật; tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 lần hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt, tùy sức của mình.
3 - Phải tưởng một hiệu Arahaṃ , hoặc Sammāsambuddho, hoặc Buddho, hoặcBhagavā. Trong 10 hiệu, niệm hiệu nào cũng được, nghĩa là chỉ tưởng một hiệu mà thôi, tưởng được nhiều càng thêm tốt tùy sức mình. Song niệm thì phải hiểu nghĩa mỗi hiệu mới được (xem ở chương Ân Ðức Phật Bảo).
Niệm đặng thanh tịnh thì sẽ thấy 5 pīti (phỉ lạc, vui sướng, no lòng không biết đói khát) phát sanh ra trong mình như sau này.
1 - Các no vui, da và lông đều nổi ốc (Khuddakāpīti).
2 - Cách no vui, như thấy trời chớp (Khanikāpīti).
3 - Cách no vui, hiển hiện như lượng sóng dội nhằm mình (Okkantikāpīti).
4 - Cách no vui nhiều, có thể làm cho thân bay bổng trên hư không (Ubengāpīti).
5 - Cách no vui, làm cho mát mẻ thân tâm (Pharanāpiti).
Nếu có một trong 5 cách no vui phát sanh thì được kết quả gần vào bậc sơ định.
Phép niệm Phật không có mãnh lực cho kết quả đến bậc sơ định được, bởi ân đức của Phật là vô lượng vô biên, khó thấu cho cùng tột được. Người thường năng niệm Phật thì tham, sân, si không phát khởi lên đặng: năm phép chướng ngại (tham, sân, nghi nan, buồn ngủ, phóng tâm) cũng đều yên lặng. Người niệm Phật phải hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi của mình, như có Phật hằng ở trước mắt mình vậy.
Cho nên dầu ít căn lành, cũng được sự hạnh phúc, sẽ sanh làm người phú túc, cao sang, hoặc làm bậc trời trong kiếp vị lai; vì thế, các bậc thiện trí thức không nên khinh rẻ phép niệm Phật: phép này có nhiều phước báu, y theo lý đạo đã giải trên.

THẬP ÁC NGHIỆP
1 - THÂN CÓ BA NGHIỆP:
1. Sát sanh (Pānātipāto).
2. Trộm cắp (Adinnādānaṃ).
3. Tà dâm (Kāmesu micchācāro).
2- KHẨU CÓ 4 NGHIỆP:
1. Nói dối (Mū āvādo).
2. Nói hai lưỡi (Pisuṇāvācā).
3. Nói độc ác (Pharusavācā).
4. Nói vô ích (Samphappalāpo).
3 - Ý CÓ 3 NGHIỆP:
1. Tham muốn (Abhijjhā).
2. Thù oán (Byāpādo).
3. Thấy lầm (Micchādiṭṭhi).
Các chi của nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối đã có giải ở chương Ngũ giới và bát quan trai rồi.

NGHIỆP NÓI HAI LƯỠI CÓ 4 CHI:
1. Người mà ta đâm thọc (Bhinditabboparo).
2. Cố ý nói đâm thọc người ấy (Bhedana-purekkhāratā).
3. Rán sức nói đâm thọc người ấy (Tajjovāyāmo).
4. Làm sao cho người ấy biết rõ cách đâm thọc đó (Tassa tadatthavijānānaṃ).

NGHIỆP NÓI ÐỘC ÁC CÓ 3 CHI:
1. Người mà ta đã mắng chưởi (Akkositabbo paro).
2. Lòng nóng giận (Kuppitacittaṃ).
3. Ðã mắng chưởi (Akkosanā).

NGHIỆP NÓI VÔ ÍCH CÓ 2 CHI:
1. Lời nói vô ích, nhứt là nói về việc đánh giặc của vua Mahābhārada và nói về chuyện Rābaṃ cướp nàng Sitā (Bhārata-yuddhasitaharanādiniratthakathā).
2. Ðã nói lời vô ích có trạng thái như thế ấy (Tathārū pīkathākathanaṃ).
Ý THAM MUỐN CÓ 2 CHI:
1. Tài vật của người (Parabhaṇḍaṃ).
2. Tính muốn đem về làm của mình (Attano parināmanaṃ).
Ý THÙ OÁN CÓ 2 CHI:
1. Người khác (ngoài mình ra) (Parasatto).
2. Tính chờ làm hại người ấy (Tassa taṃ taṃ vināsacintā).
Ý THẤY LẦM CÓ 2 CHI:
1. Ý biến đổi theo điều lầm lạc, nhứt là không tin Tam Bảo (Vatthuno ca gahitākaravipāritatā).
2. Ý thấy lầm lạc ấy hiểu lầm cách nào và chấp theo sự hiểu lầm ấy cho là phải (Yathā ca naṃ ganhāti tathăbhāvena tassū paṭṭhanaṃ).
Trong 10 nghiệp dữ đã giải, khi đã phạm đều đủ chi trong mỗi nghiệp, thì người phạm tội phải mang quả khổ trong đời này và đời sau. Nếu trong đời hiện tại mà chưa bị hành phạt, là bởi cái quả dữ ấy chưa đến kỳ, qua đời vị lai sẽ bị hành phạt chẳng sai.

THẬP THIỆN NGHIỆP

1 - THÂN CÓ 3 NGHIỆP:
1. Không sát sanh.
2. Không trộm cắp.
3. Không tà dâm.

2 - KHẨU CÓ 4 NGHIỆP;
1. Không nói dối.
2. Không nói hai lưỡi.
3. Không nói độc ác.
4. Không nói vô ích.

3 - Ý CÓ 3 NGHIỆP:
1. Không có ý muốn được tài vật của người về làm của mình.
2. Không có ý thù oán mong làm hại người.
3. Thấy chánh rồi càng thêm tin lẽ chánh ấy. Người nào hành theo 10 nghiệp lành đã giải trên, thì sẽ được hưởng quả vui trong đời hiện tại và vị lai chẳng sai.

TỨ THẬP NGHIỆP - (KAMMAPATHA)

GIẾT LOÀI ÐỘNG VẬT
1. Mình giết loài động vật.
2. Bảo kẻ khác giết loài động vật.
3. Vui trong sự giết loài động vật.
4. Khen sự giết loài động vật.

TRỘM CẮP
5. Mình trộm lấy của người.
6. Bảo kẻ khác trộm lấy của người.
7. Vui trong sự trộm lấy của người.
8. Khen sự trộm lấy của người.

TÀ DÂM
9. Mình làm sự tà dâm.
10. Bảo kẻ khác làm sự tà dâm.
11. Vui trong sự tà dâm
12. Khen sự tà dâm.

NÓI DỐI
13. Mình nói dối.
14. Bảo kẻ khác nói dối,
15. Vui trong lời nói dối.
16. Khen lời nói dối.

NÓI ÐÂM THỌC
17. Mình nói lời đâm thọc.
18. Bảo kẻ khác nói lời đâm thọc.
19. Vui trong lời đâm thọc.
20. Khen lời nói đâm thọc.

NÓI DỮ
21. Mình nói lời dữ.
22. Bảo kẻ khác nói lời dữ.
23. Vui trong lời nói dữ.
24. Khen lời nói dữ.

NÓI LỜI VÔ ÍCH
25. Mình nói lời vô ích.
26. Bảo kẻ khác nói lời vô ích.
27. Vui trong lời nói vô ích.
28. Khen lời nói vô ích.

THAM MUỐN CỦA NGƯỜI
29. Lòng mình tham muốn của người về làm của mình.
30. Bảo kẻ khác tham muốn của người.
31. Vui trong việc tham muốn của người.
32. Khen việc tham muốn của người.

THÙ OÁN
33. Lòng mình thù oán mong hại người.
34. Bảo kẻ khác thù oán hại người.
35. Vui trong việc thù oán hại người.
36. Khen việc thù oán hại người.

THẤY QUẤY
37. Mình thấy quấy (giả cho là thiệt, tà cho là chánh).
38. Bảo kẻ khác thấy quấy,
39. Vui trong việc thấy quấy;
40. Khen việc thấy quấy.
Trong 40 nghiệp này, nếu phạm vào một nghiệp nào, thì gọi là nghiệp ác.

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

GIRIMĀNANDA SUTTA - KINH GIẢI BỆNH




1. Evaṃ me sutaṃ : Ekaṃ samayaṃ bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapindikassa ārāme.
1. Như vầy tôi (Ananda) nghe : Một thuở nọ Đức Phật ngự tại Kỳ Viên Tịnh Xá, của Trưởng Giả Cấp Cô Độc, trong thành Xá Vệ.
2. Tena kho pana samayena āyasmā Girimānando ābādhiko hoti dukkhito bālhagilāno.

2. Thuở ấy có Tỳ Khưu tên Girimànanda đang bệnh trầm trọng và chịu nhiều đau đớn….
3. Atha kho āyasmā Ānando yena bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi…

3. Ananda liền vào nơi Phật ngự, đảnh lễ xong rồi ngồi sang một bên…
4. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā Ānando bhagavantaṃ etadavoca.

4. Khi an vị rồi, Đại Đức Ananda bèn bạch với Đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng :
5. Āyasmā bhante Girimānando ābādhiko dukkhito bālhagilāno.

5. Bạch Đức Thiên Nhân Sư ! Thầy Girimànanda đang mang trọng bệnh và trải qua nhiều sự đau đớn.
6. Sādhu bhante bhagavā yenayasmā Girimānando tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyāti.

6. Bạch Đức Thế Tôn ! Cầu xin Đức Thế Tôn vì lòng bác ái mà cứu vớt thầy Girimãnanda. Cầu thỉnh Đức Thế Tôn ngự vào phòng bệnh của thầy Girimànanda…
7. Sace kho tvaṃ Ānanda Girimānandassa bhikkhuno upasaṅkamitvā dasa saññā bhāseyyāsi.
7. Đức Phật liền đáp : Này Ananda ! Ông nên vào chỗ ở của Tỳ Khưu Girimànanda, để giảng giải cả mười phép Quán Tưởng.
8. Thānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ Girimānandassa bhikkhuno dasa saññā sutvā so ābādho thānaso paṭippassambheyya.

8. Phép ấy là nguyên nhân diệt bệnh. Nếu thầy Tỳ Khưu Girimànanda được nghe thì bệnh sẽ giảm lập tức.
9. Katamā dassa ?

9. Mười phép ấy là gì ?
10. Aniccasaññā anattasaññā asubhasaññā ādīnavasaññā dukkhasaññā pahānasaññā virāgasaññā nirodhasaññā sabbaloke anabhiratasaññā sabbasaṅkhāresu aniccasaññā ānāpānassati.

10. Ấy là tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởngsự khổ, tưởng dứt bỏ, tưởng ly dục, tưởng thanh tịnh, tưởng sựkhông dính mắc thế gian, tưởng các pháp hành sinh diệt (hợp tan), tưởng tự thân (hơi thở)….
11. Katamā c’Ànanda aniccasaññā ?
11. Nầy Ananda ! Tưởng vô thường là thế nào ?
12. Idh’Ànanda bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññagāragato vā’ti paṭisañcikkhati.
* Rūpaṃ aniccaṃ
* Vedanā aniccā
* Saññā aniccā
* Saṅkhāra aniccā
* Viññānaṃ aniccan’ti
Iti imesu pañcasu upādānakhandhesu aniccānupassī viharati.

12. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, dù ở trong rừng hay cạnh cội cây, hoặc ở một nơi thanh vắng hằng suy tưởng như vầy :
* Sắc thân vô thường
* Cảm thọ vô thường
* Tưởng biết vô thường
* Vận hành vô thường
* Tri thức vô thường
Như Lai gọi đây là phép quán tưởng ngũ uẫn vô thường, mà hàng Tỳ Khưu phải có.

13. Ayaṃ vuccat’Ànanda anattasaññā ?
13. Nầy Ananda ! Còn tưởng vô ngã là gì ?
14. Kataṃā c’Ànanda anattasaññā idh’Ànanda bhikkhu araññagato vārukkhamūlagato vā’ti paṭisañcikkhati :
* Cakkhù anattā* Rūpā anattā* Sotaṃ anattā* Saddā anattā
* Ghānaṃ anattā* Gandhā anattā* Jīvhā anattā* Rasā anattā
* Kāyo anattā* Photthabbā anattā* Mano anattā* Dhammā anattā’ti
Iti imesu chasu ajjhattikabāhiresu āyataneru anattānupassī viharati.

14. Tưởng vô ngã như thế nào. Nầy Ananda ! Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, dù ở trong rừng hay cạnh cội cây, hoặc trú một nơi thanh vắng, hằng nhớ rõ như vầy :
* Mắt chẳng phải là của ta* Các sắc chẳng phải là của ta
* Tai chẳng phải là của ta* Âm thanh chẳng phải là của ta
* Mủi chẳng phải là của ta* Các mùi chẳng phải là của ta
* Lưỡi chẳng phải là của ta* Các vị chẳng phải là của ta
* Thân nầy chẳng phải của ta* Các sự đụng chạm chẳng phải của ta
* Tâm chẳng phải là của ta* Vạn pháp chẳng phải của ta.
Đây là LỤC CĂN và LỤC TRẦN hằng biến đổi, mà một vị Tỳ Khưu lúc nào cũng thấy rõ là không phải của ta.

15. Ayaṃ vuccat’ Ànanda anattasaññā.

15. Nầy Ananda ! Pháp ấy Như Lai gọi là Tưởng Vô Ngã vậy.
16. Katamā c’Ànanda asubhsaññā ?

16. Nầy Ananda ! Tưởng Bất Tịnh là thế nào ?

17. Idh’Ànanda bhikkhu imaṃ eva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ purannānappakārassa asucino paccavekkhati atthi imasmiṃ kāya kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nahārū aṭṭhī aṭṭhimiñjaṃ vakkhaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphasaṃ antaṃ antagunaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā khelo siṅghānikā lasikā muttan’ti.
18. Īti imasmiṃ kāye asubhānupassi viharati.
Ayam vucct’Ànanda asubhasaññā.

17. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu suy tưởng thấy trong thân thể, từ bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, có da bọc chung quanh, chứa những vật không sạch, với nhiều hình dạng khác nhau gọi là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, bao tử, thận, tim, gan, ruột non, lá lách, phổi, ruột già, da non, vật thực chưa tiêu hoá, phẩn, mật, đàm, máu, mủ, tinh dịch, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu trong da, nước miếng, nước mủi, nhớt, nước tiểu.
18. Īti imasmiṃ kāye asubhānupassi viharati.
Ayam vucct’Ànanda asubhasaññā.

18. Đây là những vật (32 thể trược) đáng ghê tởm trong thân thể. Nầy Ananda ! Nhớ biết như vậy Như Lai gọi là quán tưởng bất tịnh.
19. Katamā c’Ànanda ādīnavasaññā ?

19. Nầy Ananda ! Tưởng sự khổ là thế nào?
20. Idh’Ànanda bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā īti paṭisañcikkhati :

20. Nầy Ananda! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Giáo, dù ở trong rừng hay cạnh cội cây, hoặc trú trong nơi thanh vắng hằng suy tưởng như vầy:
21. Bahudukkho kho ayaṃ kāyo bahu ādīnavoti.

21. Thân nầy có nhiều chịu đựng khổ nảo và đầy tội nghiệp !
22. Iti imasmiṃ kāye vividhā ābādhā upajjanti.

22. Các bệnh hoạn khổ sở chỉ phát sanh trong thân thể nầy.
23. Seyyathīdaṃ ?
* Cakkhurogo
* Sotarogo* Ghānarogo* Jīvhārogo
* Kāyarogo* Sīsarogo* Kannarogo* Mukharogo
* Datarogo* Kāso kāso* Pināso* Daho, Jaro
* Kucchirogo* Mucchā* Pakkhandikā* Sulā Visūcikā
* Kutthaṃ gando* Kilāso, soso* Apamāro, daddu* Kandu, kacchu
* Rakhasā, vitacchikā* Lohitaṃ, pittaṃ* Madhumeto aṃsā
* Pilakā* Bhagaṃdalā* Pittasamuṭṭhāna ābādhā* Vātasamuṭṭhānā ābādhā* Sannipātikā ābādhā* Utuparināmathā ābādhā
* Visamapanhārathā* Opakkamikā ābādhā* Kammavipākajā ābādhā* Sītaṃ unhaṃ* Jighacchā pipāsa* Uccaro passāvoti
Iti imasmiṃ kāye ādinnavānupassī viharati. * Ayaṃ vuccat’Ànanda ādīnavasaññā.
23. Những bệnh hoạn ấy gọi là gì ?
* Bệnh trong con mắt
* Bệnh trong lỗ tai* Bệnh trong lỗ mủi* Bệnh trong lưởi* Bệnh trong thân* Bệnh trong đầu* Bệnh ngoài lỗ tai
* Bệnh trong miệng* Bệnh chân răng* Bệnh ho, bệnh suyển
* Bệnh ngoài lỗ mủi* Bệnh nóng, gầy mòn* Bệnh trong bụng
* Bệnh trúng gió* Bệnh thổ huyết* Bệnh đau bụng, đi tả
* Bệnh cùi, bệnh bướu* Bệnh lác, bệnh lao* Bệnh kinh phong, mụt nhọt* Bệnh sởi, phong lở * Bệnh ban trái, ghẻ hờm
* Bệnh nghẹt máu, đau mật* Bệnh bạch đái, trỉ ngoại* Bệnh dương sang (da lở)
* Bệnh âm sang (trỉ nội)* Bệnh do đàm
* Bệnh cảm gió* Bệnh phong trệ (có đàm)
* Bệnh thời khí* Bệnh tổn* Bệnh vì bị đánh đập
* Bệnh do tiền nghiệp* Bệnh do lạnh hay nóng* Bệnh vì đói hoặc khát* Bệnh táo bón, bệnh lậu
Đây là những chịu đựng khổ đau và tội nghiệp của thân thể.
* Nầy Ananda ! Pháp ấy Như Lai gọi là tưởng sự khổ nơi thân thể vậy.

24. Katamā c’Ànanda pahānasaññā ?

24. Nầy Ananda ! Tưởng sự dứt bỏ là thế nào ?
25. Idh’Ànanda bhikkhu uppannaṃ kāmavitakkam nādhivāseti pajahati vinodeti byantikaroti anabhavaṃ gameti.
25. Nầy Ananda! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, hằng bình đẳng, dứt bỏ của bố thí, nghĩa là dửng dưng trước sắc vật, giữ tâm thanh tịnh không cho phát sanh tham luyến tư duy, nhứt là tình dục.
26. Uppannaṃ byāpādavitakkaṃ nādhivesāti pajahati vinodeti byantikaroti anabhāvaṃ gameti.

26. Hằng dửng dưng trước mọi cảm thọ, không để phát sinh các hận tư duy, là trong lòng hay suy nghĩ về sự hiềm thù, nguồn gốc gây tai hại đến chúng sanh khác.
27. Uppannaṃ vihimsāvitakkaṃ nadhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti.

27. Hằng dửng dưng trước mọi chấp nhứt, không để phát sanh các khốn tư duy, là thứ lòng suy nghĩ làm khó chúng sanh.
28. Uppannupanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaro anabhāvaṃ gameti.

28. Hằng dứt bỏ và cảnh giác, không nghĩ nhớ đến nghiệp xấu cũ đã phát sinh, và ngăn chặn các nghiệp dữ mới, không để có dịp phát sinh.
29. Ayaṃ vuccat’Ànanda pahānasaññā.

29. Nầy Ananda ! Pháp ấy Như Lai gọi là tưởng sự dứt bỏ cao thượng vậy.
30. Katamā c’Ànanda virāgasaññā.

30. Nầy Ananda ! Tưởng ly dục là thế nào ?
31. Idh’Ànanda bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato’ti patisañcikkhati.

31. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Pháp Phật, dù ở trong rừng hoặc ở cạnh cội cây, hay tạm trú nơi tranh vắng, hằng quán tưởng như vầy :
32. Etaṃ santaṃ etaṃ panītaṃ yadidaṃ sabbasankhārā- rasamatho sabbūpadhippatinissaggo tanhakkhayo virāgo nibbānan’ ti.

32.Pháp diệt dục vọng là Niết Bàn. Đoạn tuyệt tham ái, dứt bỏ khoái cảm, nhất là tình dục sẽ đưa đến sự chứng đạt giải thoát cao thượng.
33. Ayaṃ vuccat’Ànanda virāgasaññā.

33.Nầy! Như Lai gọi pháp ấy là tưởng ly dục vậy.
34. Katamā c’Ànanda nirodhasaññā ?
34. Nầy Ananda ! Tưởng thanh tịnh là thế nào ?
35. Idh’Ànanda bhikkhu araññāgato vā rukkhamūlagato vā suññā gāragato vā’ti patisañcikkhati.

35. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, dù ở trong rừng hoặc gần cội cây, hay tạm trú nơi thanh vắng, hằng quán tưởng như vầy :
36. Evaṃ santaṃ etaṃ panītaṃ yadidaṃ sabbasaṅkhārāra-samatho sabbūpadhippatinissaggo tanhakkhayo nirodho nibbānan’ti.

36. Pháp Tịch Tịnh là Niết Bàn. Khi diệt được các sở hành, tiêu trừ hết phiền não, chặt đứt được ái dục là đạt đến thanh tịnh. Chỉ có đức thanh tịnh ấy là pháp cao thượng.
37. Ayaṃ vaccat’Ànanda nirodhasaññā.

37. Này Ananda ! Như Lai gọi pháp ấy là tưởng thanh tịnh đưa đến giải thoát vậy.
38. Katamā c’Ànanda sabbaloke anabhiratasaññā.

38. Nầy Ananda, Tưởng sự không dính mắc thế gian (hay tam giới) là thế nào ?
39. Idh’Ànanda bhikkhu ye loke upāyupādānā cetaso adhiṭṭhā-nabhinivesānusāyā te pajahanto viramati na upādiyanto.

39. Nầy Ananda ! Tâm nào nương theo ái dục, mắc dính nơi thường kiến hay đoạn kiến, hướng vọng vào mọi pháp hành trên thế gian là tâm sa đọa. Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp hằng cảnh giác dứt bỏ những ác pháp ấy.
40. Ayaṃ vuccat’Ànanda sabbaloke anabhiratasaññā.

40. Nầy Ananda ! Pháp nầy Như Lai gọi là tưởng sự không dính mắc thế gian.
41. Katamā c’Ànanda sabbasankhāresu aniccasaññā ?

41. Nầy Ananda ! Tưởng pháp hành biến đổi là thế nào ?
42. Idh’Ànanda bhikkhu sabbasaṅkhārehiṭṭi yati harāyati jigucchati.
42. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, biết rõ mọi pháp hành không ngừng thay đổi, thiên về sa đọa, nên xa lánh và ghê sợ hành nghiệp, như ghê sợ nguy hiểm tội lỗi.
43. Ayaṃ vuccat’Ànanda sabbasaṅkhāresu aniccasaññā.

43. Nầy Ananda ! Pháp ấy Như Lai gọi là tưởng pháp hành biến đổi, triền miên vô thường vậy. 

44. Katamā c’Ànanda ānāpānassati ?

44. Nầy Ananda ! Tưởng hơi thở là thế nào ?
45. Idh’Ànanda bhikkhu araññāgato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdatipallaṅkaṃ ābhujjitvā ujuṃ kāyaṃ panīdhāya pannimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā.

45. Nầy Ananda ! Thầy Tỳ Khưu thấm nhuần Phật Pháp, dù ở trong rừng hoặc gần cội cây, hay tạm trú trong nơi thanh vắng, siêng năng ngồi yên, thân hình ngay ngắn, ý tưởng chân chánh để hành thiền (định trong thân)…
46. * So satova assasati.

46. * Rồi châm chỉ nhớ biết hơi thở ra,
* Satova passasati.

* Chăm chỉ nhớ biết hơi thở vô;
* Dīghaṃ vā assasanto dīghaṃ assasissām’īti pajānāti.
* Khi hơi thở ra dài tự thân biết rõ thở ra dài;
* Dīghaṃ vā passasanto dīghaṃ passasissām’īti pajānāti.

* Khi hơi thở vô dài tự thân biết rõ thở vô dài;
* Rassaṃ vā assasanto rassaṃ assasissām’īti pajānāti.

* Khi hơi thở ra ngắn tự thân biết rõ thở ra ngắn;
* Rassaṃ vā passasanto rassaṃ passasissām’īti pajānāti.

* Khi hơi thở vô ngắn tự thân biết rõ thở vô ngắn;
* Sabbakāyappatisamvetī assasissām’īti sikkhati.

* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân ý thức rằng sắp sữa thở ra, và thở ra.
* Sabbakāyappatisamvetī passasissām’īti sikkhati.

* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân ý thức rằng sắp sữa thở vô, rồi thở vô.
* Passambhayaṃ kāyasankhāraṃ assasissām’īti sikhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân biết rõ sắp dứt hơi thở ra, và dứt thở ra.
* Passambhayaṃ kāyasankhāraṃ passasisām’īti sikhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân biết rõ sắp dứt hơi thở vô, và dứt thở vô.
* Pītippatisaṃvedī assatissām’īti sikkhati.* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân cảm thấy có sự phỉ lạc trong hơi thở ra, và thở ra.
* Pītippatisaṃvedī passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tự thân cảm thấy có sự phỉ lạc trong hơi thở vô, và thở vô.
* Sukhappaṭisaṃvedī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng tự thân cảm thấy an tịnh trong hơi thở ra, và thở ra.
* Sukhappaṭisaṃvedī passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, tự thân cảm thấy an tịnh trong hơi thở vô, và thở vô.
* Cittasaṅkhārappaṭisaṃvedī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khư ấy cũng theo sát mọi biến chuyễn của toàn thân hành trong hơi thở ra, và thở ra.
* Cittasaṅkhārappaṭisaṃvedī passasissām’īti sikkhati
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, tự thân tâm đang biết rỏ mọi biến chuyển của tâm hành trong hơi thở vô, rồi thở vô.
* Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang diệt (hay không mắc dính vào) tâm hành, khi thở ra.
* Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang diệt (hay không mắc dính vào) tâm hành, khi thở vô.
* Cittappatisaṃvedi assassām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang biết rõ tướng tâm, khi thở ra.
* Cittappatisaṃvedi passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức giữ tâm thơ thới, khi thở ra.
* Abhippamodayaṃ cittaṃ assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức giữ tâm thơ thới, khi thở ra.
* Abhippamodayaṃ cittaṃ passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang giữ tâm thơ thới, khi thở vô.
* Samādahaṃ cittaṃ assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang giữ cho tâm bình thản trong cảnh giới, khi thở ra.
* Samādahaṃ cittaṃ passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang giữ cho tâm bình thản trong cảnh giới, khi thở vô.
* Vimocayaṃ cittaṃ assasisām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang diệt (hay thoát khỏi) những tâm chướng ngại, nhất là 5 triền cái khi thở ra.
* Vimocayaṃ cittaṃ passasisām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, ý thức đang diệt (hay thoát khỏi) những tâm pháp chướng ngại, nhất là 5 triền cái khi thở vô.
* Aniccānupassī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy tinh tường rằng, ta là người thấy rỏ ngũ uẩn là vô thường khi thở ra.
* Aniccānupassī passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy tinh tường rằng, ta là người thấy rỏ ngũ uẩn là vô thường khi thở vô.
* Virāgānupassī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp đạt tới dứt bỏ tình dục, khi thở ra…
* Virāgānupassī passasisām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp đạt tới dứt bỏ tình dục, khi thở vô…
* Nirodhānupassī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp chứng pháp tịch tịnh, không còn thống khổ, khi thở ra…
* Nirodhānupassī passasissām’īti sikkhati
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp chứng pháp tịch tịnh, không còn thống khổ, khi thở vô…
* Patinissaggānupassī assasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp chứng pháp xa lìa phiền não, khi thở ra…
* Patinissaggānupassī passasissām’īti sikkhati.
* Rồi Tỳ Khưu ấy cũng tinh tường rằng, pháp hành đang giúp chứng pháp xa lìa phiền não, khi thở vô…
47. Ayaṃ vuccat’ Ànanda ānāpānassati.
47. Nầy Ananda ! Những pháp ấy Như lai gọi là tưởng hơi thở (thanh tịnh trong niệm thân) vậy.
48. Sace kho tvaṃ Ànanda Girimānandassa bhikkhuno upasaṇkamitvā imā dasa saññā bhāseyyāsi, thānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ Girimānandassa bhikkhuno imā dasa saññā sutvā so ābādho thānaso paṭipassambheyyāti.

48. Nầy Ananda ! Khi ông đến gặp Tỳ Khưu Girimānanda rồi, ông nên giảng rõ mười pháp quán tưởng như vậy. Vì đó là Diệu Pháp duy nhất đủ khả năng thuyên giảm trọng bệnh của thầy Tỳ Khưu Girimānanda.
49. Atha kho āyasmā Anando bhagavato santike imā dasa saññā uggahetvā yenāyasmā Girimānando tenupasaṅkami upasaṅkamitvā āyasmato Girimānandassa imā dasa saññā abhāsi.

49. Liền đó Đại Đức Ananda nhớ kỹ mười pháp quán tưởng (giải bệnh) của Đức Thế Tôn, rồi đem giảng giải lại cho thầy Tỳ Khưu Girimānanda.
50. Atha kho āyasmato Girimānandassa imā dasa saññā sutvā so ābādho thānaso patippasambhi.
50. Nhờ nghe được mười pháp quán tưởng nầy mà thầy Tỳ Khưu liền cảm thấy trọng bệnh không còn gây đau đớn nữa.
51. Vutthahi c’ayasmā Girimātamhā ābādhā.

51. Và thầy Tỳ Khưu Girimānanda dứt khỏi bệnh ấy.
52. Tathā pahīno ca panāyasmato Girimānandassa so ābābho ahosi’ti.
52. Pháp lành đã trị được trọng bệnh của thầy Tỳ Khưu Girimānanda chính là mười pháp niệm tưởng nêu trên đây vậy.


VÀI LỜI TRẦN TÌNH

Khi tôi khôn lớn thì cha mẹ tôi đã qua đời. Tôi được các anh chị kể lại rằng song thân tôi đã từ trần sau một cơn bạo bịnh !
Rồi tôi may mắn được học hỏi Phật Giáo, biết được nhiều điều chân chánh, vi diệu vô giá trong nhà Phật. Và tôi cũng chưa có dịp báo ơn cha mẹ một cách ý nghĩa, nên lòng tôi vẫn mong mỏi dịp ấy !
Nhận được đọc bài GIRIMÃNANDASUTTA trong Tạng Kinh, tôi cảm thấy năng lực của Kinh nầy thần kỳ vô lượng, nên tôi không ngại lời lẽ kém thông, xin trích dịch ra đây để cống hiến quí vị Phật Tử xa gần, nhất là những bậc đáng hàng cha mẹ tôi, đang chuẩn bị trải qua những năm tháng sau cùng của cuộc đời.
Nếu những vị ấy, khi bệnh hoạn hay khổ sở vì già nua, mà đọc kinh nầy rồi được hoan hỷ, thuyên giảm phần nào cái khổ trong tuổi già, là tôi sẽ có được một phần phước. Tôi xin hồi hướng phần phước ấy đến hai đấng sinh thành ra tôi, ở trong một thế giới nà đó.
Tôi cũng xin cống hiến công quả biên soạn nầy đến tất cả chúng sinh, nhất là những ai hữu duyên trên con đường học Phật và tu Phật !
Với tấm lòng thành.
Paris cuối tháng 12 / 1984 DL.
(Dịch để ấn tống, do lời yêu cầu của một đạo hữu có thân nhân đang bạo bệnh)


Phật tử Tuệ -Lạc (Nguyễn-Điều)

Theo : tuelac.net

GIRIMANANDA SUTTA - (Kinh Gi-ri-ma-nan-đa)

Ta nghe như vầy:
Một thuở nọ gần thành Xá Vệ.
Phật cùng hàng tử đệ ngự yên,
Tại nơi tịnh xá KỲ VIÊN
Của Cấp Cô Ðộc làm duyên cúng dường
Lúc ấy có người vương bịnh nặng
Thầy Tỳ Khưu Gi-Ri-Ma-Nan-Ða
Chịu nhiều đau đớn thiết tha,
Xót thương Ðại Ðức A Nan Ðà trình bày
Vào đến chốn Như Lai an ngự,
Ðảnh lễ rồi cớ sự bạch qua
Rằng Gi-Ri-Ma-Nan-Ða (Girimananda)
Thầy vương chứng bịnh trầm kha não nùng
Bạch THẾ TÔN mở lòng bác ái
Dời gót vào đến tại thất riêng
Cứu thầy trong lúc ngửa nghiêng
Vì chưng bịnh hoạn triền miên lâu ngày.
Liền lúc đó NHƯ LAI bèn dạy,
A-NAN-ÐA người phải thẳng qua
Chỗ thầy Gi-Ri-Ma-Nan-Ða,
Truyền mười pháp tưởng của ta chỉ bày,
Pháp tưởng ấy tánh hay khước bịnh.
Chẳng luận là căn bịnh chóng chầy.
Nếu Gi-Ri-Ma-Nan-Ða,
Ðược nghe lập tức bịnh thầy giảm thuyên.
Mười pháp tưởng linh thiêng bao nả?
Tưởng những là Vô Ngã, Vô Thường,
Bất Tịnh lại đức tình trường.
Sự Khổ dứt bỏ thói thường cho xong,
Tưởng Tịch tịnh, tưởng không tham luyến.
Pháp thế gian lắm chuyện thị phi.
Tưởng đến những pháp hành vi.
Ðiều vô thường hết có chi bận lòng.
Lại để ý đến trong Hơi thở.
Cho đủ mười điều nhớ của ta.
Này, A-NAN-ÐA.
Tưởng vô thường ấy nghĩa là làm sao?
Này, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu đã vào Phật Pháp.
Ở trong rừng, ở dựa cội cây.
Hoặc nhà thanh vắng, không ai.
Trầm ngâm tưởng pháp Như Lai như vầy:
Sắc, Thọ, Tưởng liên dây, Hành thức.
Ðều vô thường một mực như nhau.
Ngũ Uẩn chẳng luận Uẩn nào.
Tỳ Khưu tưởng thấy biến mau không thường.
Nầy, A-NAN-ÐA.
Tưởng Ngũ Uẩn vô thường là vậy.
Như Lai cho tưởng ấy vô thường.
Nầy, A-NAN-ÐA.
Còn tưởng Vô Ngã con đường thế nào?
Nầy, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu đã vào Phật Pháp.
Ở trong rừng, ở dựa cội cây.
Hoặc nhà thanh vắng, không ai.
Trầm ngâm tưởng pháp Như Lai như vầy:
Mắt cùng các sắc đây một cuộc.
Chẳng phải là vật thuộc của tạ.
Tai và các tiếng gần xa.
Cũng là chẳng phải của ta đâu nào.
Mũi lại với các mùi cả thảy.
Ðều ở ngoài, chẳng phải của ta.
Lưỡi cùng các vị phớt qua.
Thật đó chẳng phải của ta chớ lầm.
Thân thể với các mần đụng cọ.
Chớ đảo điên cho đó của ta.
Tâm cùng Pháp hà sa.
Cũng đều chẳng phải của ta mỗi phần.
Tỳ Khưu tưởng căn trần như thế.
Ngoài phạm vi, chẳng kể của ta.
Này, A-NAN-ÐA.
Pháp tưởng vô ngã đó ta đã bày.
Này, A-NAN-ÐA.
Tưởng bất tịnh là điều chi vậy?
Này, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu tưởng thấy trong thân.
Bắt từ ngọn tóc xuống chân.
Có da bao bọc chung quanh cả mình.
Trong chứa vật nhiều hình, nhiều dáng.
Khác khác nhau nhưng đáng gớm ghê.
Tóc, lông với móng, răng, da.
Thịt, gân, xương tủy, ruột già, ruột non.
Thận, tim gan, da non, lá lách.
Phổi, phẩn, đàm, nước mắt, mồ hôi.
Mật cùng vật thực chưa tiêu.
Dầu da, mủ, máu, rất nhiều phần dơ.
Mỡ, nhớt, mũi, chẳng bao giờ thiếu.
Nước miếng cùng nước tiểu dẫy đầy.
Tỳ Khưu tưởng các vật này.
Vẫn không sạch sẽ trong thây con người.
A-NAN-ÐA vậy ngươi cố nhớ
Pháp ấy là tưởng sợ thân ta.
Này A-NAN-ÐA.
Tưởng sự khổ ấy tưởng là làm sao?
Này, A-NAN-ÐA
Thầy Tỳ Khưu đã vào Phật Pháp.
Ở trong rừng, ở dựa cội cây,
Hoặc nhà thanh vắng không ai,
Trầm ngâm tưởng pháp Như Lai như vầy:
Thân thể có dẫy đầy khổ não.
Tội lỗi gây quả báo về sau.
Bịnh căn khốn khó nhức đau.
Những bịnh hoạn ấy kể sao cho cùng.
Như bịnh phát phần trong tai mũi,
Trong thân hình, trong lưỡi trong đầu
Trong miệng, trong bụng, đâu đâu.
Ngoài tai, ngoài mũi, khắp hầu châu thân.
Bịnh ho, suyễn, gầy lần, bịnh nóng.
Bịnh chơn răng, các giống lác, cùi.
Bịnh bướu, sải, mụn, lôi thôi.
Bịnh phong, lao, tổn, vô hồi khó toan.
Bịnh chóng mặt, trái ban, thổ huyết.
Trĩ, đinh san, chi xiết thúi tha.
Âm san, ghẻ phỏng ngoài da.
Ðau bụng, bịnh tả, cùng là đàm xanh.
Bịnh đau máu dễ thành chứng nặng.
Bịnh mật đau, huyết trắng, phong đàm.
Bịnh bón, bịnh lậu, không kham.
Phong lở, đau mật, gió làm cho đau.
Bịnh thời khí, bịnh do đánh đập.
Do nghiệp duyên dồn dập từ xưa.
Do lạnh, do nóng không ưa.
Do đói, do khát, chẳng chừa một nhân.
Tưởng tội khổ trong thân như thế.
Pháp ấy là tưởng khổ thân ta.
Này, A-NAN-ÐA,
Còn tưởng dứt bỏ nghĩa là làm sao?
Nầy, A-NAN-ÐA
Thầy Tỳ Khưu đã vào Phật Pháp,
Không có lòng thọ Pháp dục chi.
Cố làm tiêu tán dứt đi.
Không cho sanh Dục-tư-duy thường tình.
Không thọ lãnh lại đành dứt bỏ.
Làm tiêu tan chẳng có chút chi.
Không cho sanh Hận-tư-duy.
Thứ lòng cố chấp nghĩ suy oán thù.
Không thọ lãnh hận thù dứt bỏ.
Làm tiêu tan chẳng có chút chi,
Không cho sanh Khốn-tư-duy.
Thứ lòng khốn khó nghĩ suy thật hành.
Không thọ lãnh lại đành dứt bỏ.
Làm tiêu tan chẳng có dư dành.
Không cho nghiệp dữ phát sanh.
Nghiệp dữ đã có không thành nhiều thêm.
Này, A-NAN-ÐA.
Pháp ấy gọi tưởng về dứt bỏ.
Này, A-NAN-ÐA.
Tưởng dứt tình dục nghĩa là làm sao?
Này, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu đã vào Phật Pháp,
Ở trong rừng, ở dựa cội cây,
Hoặc nhà thanh vắng không ai.
Trầm ngâm tưởng pháp Như Lai như vầy:
Dứt tình dục, nơi đây bất diệt.
Là Niết Bàn trừ diệt sở hành.
Dứt bỏ phiền não chẳng sanh.
Ðoạn trừ ái dục cội căn tuyệt rồi.
Niết Bàn ấy vô hồi tịch tịnh.
Pháp môn này cao thượng sâu xa.
Này, A-NAN-ÐA.
Tưởng dứt tình dục đó ta giáo truyền.
Này, A-NAN-ÐA.
Tưởng tịch tịnh, cơ duyên sao đó?
Này, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu trong giáo pháp này.
Ở rừng hoặc dựa cội cây.
Trong nhà vắng vẻ tưởng suy như vầy:
Pháp tịch mịch nơi đây bất diệt.
Là Niết Bàn trừ diệt sở hành.
Dứt bỏ phiền não chẳng sanh.
Ðoạn trừ ái dục cội căn tuyệt rồi.
Niết Bàn ấy vô hồi tịch tịnh.
Pháp môn này cao thượng sâu xa,
Này, A-NAN-ÐA.
Ðó là pháp tịnh mà ta giáo truyền.
Này, A-NAN-ÐA.
Sao gọi tưởng không duyên thế giới?
Này, A-NAN-ÐA.
Cái tâm này mong đợi, chấp nương.
Ái dục; với kiến thức thường.
Ðoạn kiến cùng những vị phiền thế gian.
Cái tâm ấy thuộc hàng tâm ác.
Thầy Tỳ Khưu trong pháp của ta.
Khi nào bỏ pháp ấy ra,
Không lòng cố chấp, tránh xa được rồi.
Này, A-NAN-ÐA,
Pháp ấy gọi tưởng thôi, không tiến.
Hoặc là không tham luyến thế gian.
Này, A-NAN-ÐA.
Còn tưởng hành tác vô thường là sao?
Này, A-NAN-ÐA.
Hàng Tỳ Khưu thầy nào chán nản.
Hoặc gớm ghê chẳng quản hành vi.
Này, A-NAN-ÐA.
Ðó Như Lai gọi hành vi vô thường.
Này, A-NAN-ÐA.
Thế nào gọi niệm thường hơi thở?
Này, A-NAN-ÐA.
Thầy Tỳ Khưu hoặc ở trong rừng.
Trong nhà hoặc dựa cội cây.
Nên ngồi nhắm mắt; thân ngay im līm.
Ý chơn chánh để tìm Thiền định.
Khi mọi bề yên tịnh thản nhiên,
Chú tâm đề mục tham thiền.
Nhớ biết rõ rệt, thở vào thở ra.
Thở ra dài, cùng ra hơi vắn.
Thở vô mà có vắn hay dài
Hơi vô cũng nhớ vắn dài phân minh.
Thầy Tỳ Khưu chuyên tình ròng rã.
Nhớ biết rằng: Ta đã rõ ta.
Là người biết hơi thở ra.
Niệm xong rồi mới thở ra từ từ,
Thầy Tỳ Khưu cũng như thế ấy.
Cứ chuyên cần nhớ thấy hơi vô.
Biết rằng: ta rõ hơi vô.
Niệm xong rồi mới thở vô lần lần
Thầy Tỳ Khưu chuyên cần ròng rã.
Nhớ biết rằng: ta đã biết ta.
Là người diệt hơi thở ra.
Niệm xong rồi mới thở ra từ từ.
Thầy Tỳ Khưu cũng như thế ấy.
Cứ chuyên cần, nhớ thấy hơi vô.
Biết rằng: ta diệt hơi vô.
Niệm xong rồi mới thở vô lần lần.
Thầy Tỳ Khưu chuyên cần một mực.
Ta biết rằng: ta thật biết rành,
Những điều, thọ sướng, vui mừng.
Niệm xong rồi mới lần lần thở ra.
Thầy Tỳ Khưu cũng là một mực.
Tự biết rằng; ta thật biết rành.
Những điều thọ sướng, vui, mừng.
Niệm xong rồi mới lần lần thở vô.
Thầy Tỳ Khưu tâm đồ chuyên chú.
Tự biết rằng: rõ thú yên vui.
Phân minh biết được rõ rồi.
Niệm xong rồi mới lần lần thở ra.
Thầy Tỳ Khưu cũng là một mực.
Nhớ biết rằng: ta thật biết mùi.
Của các thú vị yên vui.
Niệm xong rồi mới lần lần thở vô.
Thầy Tỳ Khưu quan hô, sát hấp.
Tự biết là rõ khắp tâm hành.
Biết cho rõ rệt đành rành.
Niệm xong rồi mới thật hành thở ra.
Thầy Tỳ Khưu tâm đà tinh tấn.
Cố chuyên cần đặng phấn chí lành.
Biết rằng: ta rõ tâm hành.
Niệm xong rồi mới thật hành thở vô.
Thầy Tỳ Khưu quan hô, sát hấp,
Tự biết rằng: diệt tắt tâm hành.
Biết cho rõ rệt đành rành.
Niệm xong rồi mới thật hành thở ra.
Thầy Tỳ Khưu tâm đà tinh tấn.
Cố chuyên cần đặng phấn chí lành.
Biết rằng: ta diệt tâm hành,
Niệm xong rồi mới thật hành thở vô.
Tỳ Khưu không mơ hồ chán nản.
Vẫn tinh cần, thanh sảng luôn luôn.
Biết rằng: ta đã rõ tâm.
Niệm xong rồi mới âm thầm thở ra,
Tỳ Khưu tự biết ta thành thiệt.
Vốn là người đã biết rõ tâm.
Biết cho rõ rệt không lầm.
Niệm xong rồi mới âm thầm thở vô.
Thầy Tỳ Khưu trong mô phạm ấy.
Vẫn chuyên cần nhớ thấy rằng ta,
Làm tâm được thơi thới ra.
Niệm xong rồi mới khởi mà thở ra
Thầy Tỳ Khưu cũng là thế ấy.
Vẫn chuyên cần nhớ thấy rằng ta.
Làm tâm được thơi thới ra.
Niệm xong rồi mới khởi mà thở vô,
Thầy Tỳ Khưu nên phô nhẫn nại.
Chuyên cần rằng: ta phải giữ tâm.
Quân bình trong các cảnh trần.
Niệm xong rồi mới lần lần thở ra.
Thầy Tỳ Khưu cũng như là trước,
Chuyên cần rằng: ta giữ được tâm.
Quân bình trong các cảnh trần.
Niệm xong rồi mới lần lần thở vô,
Thầy Tỳ Khưu nguyện cho hăng hái,
Tinh cần rằng: ta giải thoát tâm.
Khỏi Pháp chướng cái cả năm.
Niệm xong rồi mới đầm đầm thở ra.
Thầy Tỳ Khưu tỏ ra hăng hái
Tinh cần rằng: Ta giải thoát tâm
Khỏi Pháp chướng cái cả năm.
Niệm xong rồi mới đầm đầm thở vô.
Thầy Tỳ Khưu xét vô thường biến.
Rằng: ta hằng, thấy hiện tinh tường.
Ngũ uẩn đều là vô thường.
Niệm xong rồi mới mở đường thở ra.
Thầy Tỳ Khưu cũng là thế đó,
Rằng: ta hằng thấy rõ tinh tường.
Ngũ uẩn đều là vô thường.
Niệm xong rồi mới mở đường thở vô,
Tỳ Khưu để, tâm vô đề mục;
Rằng: Pháp trừ tình dục mà ta,
Là người hằng được thấy qua.
Niệm xong rồi mới thở ra lần lần.
Thầy Tỳ Khưu chuyên cần đề mục.
Rằng: Pháp trừ tình dục mà ta,
Là người hằng được thấy qua.
Niệm xong rồi mới khởi mà thở vô.
Thầy Tỳ Khưu, tự cho hằng thấy.
Pháp tịch tịnh, pháp ấy được yên,
Khỏi điều thống khổ triền miên.
Niệm xong rồi mới thở liền hơi ra,
Thầy Tỳ Khưu rằng: Ta hằng thấy,
Pháp tịch tịnh, pháp ấy được yên.
Khỏi điều thống khổ triền miên.
Niệm xong rồi mới thở liền hơi vô.
Thầy Tỳ Khưu tự cho thấy rõ.
Những pháp lành dứt bỏ ưu phiền,
Chuyên cần niệm chẳng trì duyên.
Niệm xong rồi mới thở liền hơi ra.
Thầy Tỳ Khưu rằng: Ta thấy rõ
Những pháp lành dứt bỏ ưu phiền,
Chuyên cần niệm chẳng trì duyên.
Niệm xong rồi mới thở liền hơi vô.
Này, A-NAN-ÐA.
Ðiều ấy gọi niệm vô hơi thở.
Này, A-NAN-ÐA.
Nếu người vào chỗ bịnh nhân.
Của GI-RI-MA-NAN-ÐA.
Ngươi nên giảng giải pháp ta chỉ bày.
Mười pháp tưởng nhân hay diệt bịnh,
Làm cho thầy GI-RI-MA-NAN-ÐA.
Chỉ trong giây phút thoáng qua.
Căn bịnh thuyên giảm chắc là không sai.
Liền theo đó A-NAN-ÐA học.
Pháp tưởng này của Ðức Thế Tôn.
Rồi đem truyền đến Sa Môn.
Người đương bịnh hoạn dập dồn bấy lâu.
Nhờ nghe được Pháp mầu quán tưởng.
Bịnh của thầy GI-RI-MA-NAN-ÐA.
Giảm thuyên rồi khỏi hẳn ra.
Chỉ trong giây phút thoáng qua không chầy.
Diệt căn bịnh của thầy trầm trọng,
Chính cho thầy GI-RI-MA-NA-ÐA.
Ðược nghe pháp tưởng sâu xa.
Phật truyền cho đức A-NAN-ÐA giải bày.
http://www.budsas.org/uni/u-nhat-tung/nhattung04.htm

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

BOJJHANGA SUTTA‏ - DƯỢC PHÁP THẤT GIÁC CHI

                                         


BOJJHAṄGAPARITTA
(KINH THẤT GIÁC CHI)
Kệ Khai Kinh Thất Giác Chi
Saṃsāre saṃsarantānaṃ,
Sabbadukkhavināsane.
Satta dhamme ca bojjhaṅge,
Mārasenāpamaddane.
Bujjhitvā ye cime sattā,
Tibhavā muttakuttamā.
Ajātimajarābyādhiṃ,
Amataṃ nibbhayaṃ gatā.
Evamādiguṇūpetaṃ,
Anekaguṇasaṅgahaṃ.
Osadhañca imaṃ mantaṃ,
Bojjhaṅgañca bhaṇāma he!
Bojjhaṅgaparitta
(Kinh Thất Giác Chi)
Bojjhaṅgo satisaṅkhāto,
Dhammānaṃ vicayo tathā,
Vīriyaṃ pīti passaddhi,
Bojjhaṅgā ca tathāpare,
Samādhupekkhā bojjhaṅgā,
Sattete sabbadassinā,
Muninā sammadakkhātā,
Bhāvitā bahulīkatā.
Saṃvattanti abhiññāya,
Nibbānāya ca bodhiyā.
Etena saccavajjena
Sotthi te 
[6] hotu sabbadā.
Ekasmiṃ samaye nātho,
Moggallānañca Kassapaṃ,
Gilāne dukkhite disvā,
Bojjhaṅge satta desayi,
Te ca taṃ abhinanditvā,
Rogā mucciṃsu taṅkhaṇe.
Etena saccavajjena,
Sotthi te hotu sabbadā.
Ekadā Dhammarājā pi,
Gelaññenābhipīḷito,
Cundattherena taṃyeva,
Bhaṇāpetvāna sādaraṃ,
Sammoditvāna ābādhā,
Tamhā vuṭṭhāsi ṭhānaso.
Etena saccavajjena
Sotthi te hotu sabbadā.
Pahīnā te ca ābādhā,
Tiṇṇannampi mahesinaṃ,
Maggahatā kilesāva,
Pattānuppattidhammataṃ.
Etena saccavajjena
Sotthi te hotu sabbadā.
(Bojjhaṅgasuttaṃ niṭṭhitaṃ)
-ooOoo-



[1] Samyuttanikāya, phần Mahāvaggasamyutta. Kinh Paṭhamagilānasutta.
[2] Samyuttanikāya, phần Mahāvaggasamyutta. Kinh Dutiyagilānasutta.
[3] Samyuttanikāya, phần Mahāvaggasamyutta. Kinh Tatiyagilānasutta.
[4] Tự tụng cho mình, thay chữ “te = người” bằng chữ “me = tôi”.
[5] Tự tụng cho mình, thay chữ “te = người” bằng chữ “me = tôi”.
[6] Tự tụng cho mình, thay chữ “te = người” bằng chữ “me = tôi”.


Kinh Thất Giác Chi
(Bojjhaṅgaparitta)
Ý Nghĩa Bài Kệ Khai Kinh Thất Giác Chi
Này chư bậc thiện trí khả kính!
Chư Thánh cao thượng đã chứng tri.
Bảy pháp gọi là thất giác chi,
Có khả năng tiêu diệt quân Ma,
Làm tiêu tan tất cả cảnh khổ
Của những chúng sinh đang tử sinh
Luân hồi trong ba giới bốn loài.
Thất Giác Chi dẫn đến chứng ngộ,
Niết Bàn cao thượng giải thoát khổ
Trong ba giới bốn loài thật sự,
Không sinh, không già, không bệnh hoạn,
Không có tai họa, cũng không chết.
Chúng tôi tụng kinh Thất Giác Chi,
Là chú nguyện vô cùng linh ứng,
Là linh dược nhiệm mầu hiệu nghiệm
Được tổng hợp vô số ân đức,
Có đầy đủ các đức cao thượng.
Kính xin mời quý vị lắng nghe!
Ý Nghĩa Bài Kinh Thất Giác Chi
(Bojjhaṅgaparitta)
Đức Thế Tôn là bậc Toàn Tri.
Thuyết giảng bảy pháp giác chi là:
Niệm giác chi, phân tích giác chi,
Tinh tấn giác chi, hỷ giác chi,
An tịnh giác chi, định giác chi,
Và xả giác chi, gồm bảy pháp.
Bảy pháp giác chi được thực hành,
Pháp hành càng được tăng trưởng nhiều,
Để ngộ chân lý Tứ Thánh Đế,
Để chứng đắc Thánh Đạo Thánh Quả,
Để chứng đạt Niết Bàn cao thượng.
Do năng lực lời chân thật này,
Cầu phước lành thường có đến người!
 [1]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn thấy
Trưởng Lão Má-ha-kắt-xá-pá,
Và Má-ha-mốc-ganh-la-ná
Lâm bệnh nặng trầm trọng khổ thân,
Ngài ngự đến tận nơi thuyết giảng
Thất giác chi tế độ mỗi vị.
Hai vị phát sinh tâm hoan hỷ,
Bảy pháp giác chi của Đức Phật.
Chứng bệnh liền khỏi ngay tức khắc.
Do năng lực lời chân thật này,
Cầu phước lành thường có đến người!

Một thời Đức Phật lâm bệnh nặng,
Ngài truyền Đại đức Chun-đá rằng:
“Con hãy tụng bảy pháp giác chi”
Đại đức Cun-da thành kính tụng
Bảy pháp giác chi ấy vừa xong.
Đức Thế Tôn vô cùng hoan hỷ,
Chứng bệnh liền khỏi ngay tức thì.
Do năng lực lời chân thật này,
Cầu phước lành thường có đến người!

Phiền não nào bị diệt đoạn tuyệt
Do bởi Thánh Đạo Tuệ nào rồi.
Phiền não ấy không sinh lại được,
Cũng như chứng bệnh của Đức Phật,
Và hai vị Đại đức Trưởng Lão,
Bệnh ba vị đều đã khỏi hẳn,
Không bao giờ tái phát lại nữa.
Do năng lực lời chân thật này
Cầu phước lành thường có đến người!
 [2]
(Bài kinh Thất Giác Chi xong)

Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)
 http://www.budsas.org/uni/u-hophap/benh01.htm

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Dhāraṇaparittapāḷi - Bài Pháp Hộ Trì Người Trì Pháp




Dhāraṇaparittapāḷi

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa


1. Buddhānaṁ jīvitassa na sakkā kenaci 
antarāyo kātuṁ.
*Tathā me hontu.
*Tathā te hontu.
*Tathā no hontu.
*Tathā vo hontu.

2.  Atītaṁse buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ, anāgataṁse buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ, paccuppannaṁse buddhassa bhagavato paṭihataṁ ñāṇaṁ, 

3. Imehi tīhi dhammehi samannāgatassa buddhassa bhagavato sabbaṁ kāyakammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇānuparivattaṁ, sabbaṁ vacīkammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇānuparivattaṁ, sabbaṁ manokammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇānuparivattaṁ. 

4.  Imehi chahi dhammehi samannāgatassa buddhassa bhagavato natthi chandassa hāni, natthi dhammadesanāya hāni, natthi vīriyassa hāni, natthi vipassanāya hāni, natthi samādhissa hāni, natthi vimuttiyā hāni.

 5. Imehi dvādasahi dhammehi samannāgatassa buddhassa bhagavato natthi davā, natthi ravā, natthi aphuṭaṁ, natthivegāyitattaṁ, natthi abyāvaṭamano, natthi 
appaṭisaṅkhānupekkhā. Imehi aṭṭhārasashi dhammehi samannāgatassa buddhassa bhagavato, namo sattanaṁ sammāsambuddhānaṁ.

6. Natthi tathāgatassa kāyaduccaritaṁ, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, natthi tathāgatassa manoduccaritaṁ. 
Natthi atitaṁse buddhassa bhagavato paṭihataṁ ñāṇaṁ, natthi anāgataṁse buddhassa bhagavato paṭihataṁ ñāṇaṁ, natthi paccuppannaṁse buddhassa bhagavato paṭihataṁ ñāṇaṁ.

Natthi sabbaṁ kāyakammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇaṁ nānuparivattaṁ, natthi sabbaṁ vacīkammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇaṁ nānuparivattaṁ, natthi sabbaṁ 
manokammaṁ ñāṇapubbaṅgamaṁ ñāṇaṁ nānuparivattaṁ.

Imaṁ dhāraṇaṁ amitaṁ asamaṁ sabba sattānaṁ tāṇaṁ lelaṁ saṁsārabhayabhītānaṁ aggaṁ mahātejaṁ.

  7. Imaṁ Ānanda dhāraṇaparittaṁ dhārehi vārehi paripucchāhi. Tassa kāye visaṁ na khadeyya, udake na laggeyya, aggi na ḍaheyya, nānābhayaviko, na ekāhārako, na dvihārako, na tihārako, na catuhārako, na ummattakaṁ, na mūḷhakaṁ, manussehi amanussehi na hiṁsakā.

  8. Taṁ dhāraṇaparittaṁ yathā katame, jālo mahājālo, jālitte mahājālitte, pugge mahāpugge, sampatte mahāsampatte, bhūtaṅgamhi tamaṅgalaṁ. 

       9. Imaṁ kho panānanda dhāraṇaparittaṁ sattasattati sammāsambuddhakoṭīhi bhāsitaṁ, vatte avatte, gandhave agandhave, nome anome, seve aseve, kāye akāye, dhārane adhārane, illi milli, tilli milli, yorukkhe mahāyorukkhe, bhūtaṅgamhi tamaṅgalaṁ.

 10. Imaṁ kho panānanda dhāraṇaparittaṁ navanavutiyā sammāsambuddhakoṭīhi bhāsitaṁ, diṭṭhilā daṇḍilā mantilā rogilā kharalā dubbhila. 

Etena saccavajjena sotthi me hotu sabbadā.
Etena saccavajjena sotthi te hotu sabbadā.
Etena saccavajjena sotthi no hotu sabbadā.
Etena saccavajjena sotthi vo hotu sabbadā.

Dhāraṇaparittaṁ Natthitam.