Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Sự bình an cuối cùng

Chánh niệm là chìa khóa đưa vào phút giây hiện tại. Không có chánh niệm, chúng ta không thể nhìn thấy thế giới một cách rõ ràng, và chúng ta đánh mất mình trong sự đi rong của tâm thức. Urgyen, một vị thầy về Đại Toàn Thiện của Phật giáo Tây Tạng, nói: “Có một thứ chúng ta luôn luôn cần, đó là người canh giữ có tên là Chánh niệm-người canh giữ luôn luôn xem chừng khi nào chúng ta bị sự xao lãng lôi đi”.
Chánh niệm là tính chất và sức mạnh của tâm tỉnh giác sâu xa về điều đang xảy ra-không phê phán, không can thiệp. Nó giống như một tấm gương chỉ phản chiếu những gì hiện ra trước nó. Nó phục vụ chúng ta một cách khiêm tốn nhất, giữ cho chúng ta kết nối với cả những sự việc như đánh răng hay uống cà phê buổi sáng.
Chánh niệm cũng giữ cho chúng ta kết nối với những người xung quanh chúng ta không bị họ cuốn đi trong sự bận rộn của đời sống. Đức Dalai Lama là một biểu hiện đẹp đẽ của tình chất quan tâm chăm sóc này. Sau một cuộc hội nghị ở Arizona, Ngài mời tất cả nhân viên của khách sạn họp lại ở hành lang để Ngài chào hỏi mọi người trước khi từ giã.
Chánh niệm là nền tảng cho hành động sáng suốt. Khi chúng ta nhìn thấy rõ ràng điều đang xảy ra trong giây phút hiện tại, trí tuệ có thể soi sáng cho chúng ta trong sự chọn lựa và hành động, không để cho chúng ta bị những thói quen điều khiển. Và ở mức cao nhất, Đức Phật nói về chánh niệm như là một con đường trực tiếp đưa đến giác ngộ: “Đây là con đường thẳng để tịnh hóa, để vượt qua những khổ đau phiền não, để làm tan biến sự đau buồn, để chứng Đạo, để mở ra Niết-bàn”.
Tôi bắt đầu tham thiền khi sinh hoạt trong Peace Corps ở Thái Lan. Lúc đó tôi rất hăng say thảo luận về triết lý. Khi tôi viếng các vị sư lần đầu tiên, tôi mang theo cuốn Ethics của Spinoza, nghĩ rằng sẽ đưa vào những cuộc tranh luận. Tôi bắt đầu đến với những nhóm thảo luận cho người Tây phương được tổ chức tại một ngôi chùa ở Bangkok. Tôi dai dẳng đặt ra những câu hỏi khiến cho những người khác không đến với nhóm nữa. Cuối cùng một nhà sư đề nghị: “Tại sao anh không tập tham thiền?”.
Lúc đó tôi không biết gì về tham thiền, và tôi bị kích thích bởi một sự thực hành khác lạ của Đông phương. Tôi gom mọi đồ dùng cá nhân lại một chỗ, ngồi trên chiếc đệm thiền, để đồng hồ báo sau năm phút. Tôi kinh ngạc, một điều gì đó quan trọng xảy ra chỉ trong năm phút. Lần đầu tiên, tôi nhận ra có một con đường để nhìn vào bên trong. Có một lối vào để thăm dò bản chất của tâm.
Nhận ra điều này là khúc quanh cho đời sống tâm linh của mỗi người. Chúng ta đạt đến một điểm nào đó trong cuộc đời khi có một thứ gì đó kết vào, và chúng ta tỏ lòng biết ơn đối với chúng ta: “Vâng, tôi có thể thực hiện điều này”. Tất cả những thứ đó thật là mới mẽ và đáng lưu ý đối với tôi.

Tu tập chánh niệm

Chúng ta có thể bắt đầu tu tập thiền chánh niệm chỉ với việc quan sát và cảm nhận mỗi hơi thở. Thở vào, biết chúng ta đang thở vào, thở ra, biết chúng ta đang thở ra. Rất đơn giản, nhưng không phải dễ. Chỉ sau vài hơi thở, chúng ta sẽ nhảy phóc lên con tàu của sự liên tưởng, chìm mất trong những dự định, ký ức, đánh giá,phê bình, tưởng tượng. Có những lúc chúng ta giống như đang ngồi trong một rạp chiếu bóng với những cuốn phim luôn luôn thay đổi chỉ trong vài phút. Tâm chúng ta như vậy đó. Chúng ta không muốn ngồi lại trong một rạp chiếu bóng mà những cuốn phim thay đổi thật nhanh, nhưng chúng ta có thể làm gì với phòng chiếu ở bên trong?’
Thói quen dong ruổi không ngừng nghỉ của tâm chúng ta rất mạnh, ngay cả khi những cuộc dong ruổi đó không phải là vui và mặc dù hầu hết là không thật, như Mark Twain có lần nói: “Một số những sự việc tồi tệ nhất trong cuộc đời của tôi là những sự việc không bao giờ xảy ra”. Chúng ta cần rèn luyện tâm chúng ta, trở lại và trở lại với hơi thở và chỉ đơn giản là quay trở lại.
Khi tâm chúng ta dần dần dừng lại, chúng ta bắt đầu kinh nghiệm một mức độ nào đó của sự tĩnh lặng và bình an. Từ chỗ tĩnh lặng lớn hơn đó, chúng ta cảm nhận thân thể của chúng ta trực tiếp hơn và bắt đầu nhìn ra những cảm thọ vui và cả không vui khởi lên. Mới đầu, chúng ta có thể phản ứng lại những cảm thọ không vui, nhưng nói chung, chúng ta không lưu lại lâu. Chúng ta ở đó một lúc, chúng ta cảm nhận chúng, thấy rằng chúng ta là không vui, rồi chúng ra đi. Và ngay cả khi chúng khởi lên nhiều lần, chúng ta sẽ nhìn thấy bản chất vô thường, vô ngã của chúng, và chúng ta bớt đi nỗi sợ việc cảm nhận chúng.
Tiến xa hơn trong việc thực hành là trở nên thức tỉnh trước những niệm tưởng và cảm xúc, những hoạt động nội tâm tràn ngập không ngừng ảnh hưởng lên tâm, thân và đời sống của chúng ta. Có khi nào bạn dừng lại để quan sát xem một niệm tưởng là gì-không phải quan sát nội dung của nó, nhưng quan sát bản chất thật sự của nó? Có ít người thật sự đặt câu hỏi: “Một niệm tưởng là gì?” điều xảy ra rất nhiều lần trong một ngày, mà chúng ta không để nhiều quan tâm, là cái gì?
Không nhận biết những niệm tưởng nảy sinh trong tâm, cũng không nhận biết bản chất thật sự của niệm tưởng, chúng ta cho phép chúng thống trị cuộc sống của chúng ta. Niệm tưởng sai sử chúng ta làm điều này, nói điều kia, đi đến chỗ này, dời đến chỗ nọ, lèo lái chúng ta như thể chúng ta là những kẻ tôi tớ phục vụ cho chúng.
Khi chúng ta để tâm theo dõi sự khởi lên và biến mất của niệm tưởng, chúng ta bắt đầu nhìn thấy bản chất rỗng không của chúng. Chúng giống như những chiếc bong bóng khởi lên trong tâm, không có tự ngã.
Giống như người phù thủy toàn năng núp phía sau bức màn trong cuốn phim The Wizard of Oz, quyền năng mà những niệm tưởng có được là quyền năng do chúng ta ban cho chúng Mọi niệm tưởng đến rồi đi. Chúng ta có thể học tập để có cái thấy rõ ràng, trong trẻo về chúng và không bị cái tâm đầy niệm tưởng lăng xăng đó cuốn đi. Với chánh niệm, chúng ta có thể nhận thức một cách sáng suốt để lựa chọn điều gì nên thực hiện và điều gì nên từ bỏ.

Ứng phó với cảm xúc

Cũng như đối với niệm tưởng, chúng ta có thể rèn luyện để giữ chánh niệm trước những cảm xúc, những năng lượng mạnh mẽ tràn qua thân và tâm chúng ta như những đợt sóng. Chúng ta kinh nghiệm những cảm xúc đó, đôi khi chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi: giận dữ, kích động, buồn bã, sầu khổ, thương yêu, vui vẻ,trắc ẩn, ghen tuông, hạnh phúc, thích thú, buồn chán. Có những cảm xúc đẹp và những cảm xúc không vừa ý-và phần lớn, chúng ta bị sức mạnh của chúng và những nguyên nhân làm cho chúng khởi lên vồ lấy.
Chúng ta dễ đánh mất mình trong sự cường điệu của chính mình. Chúng ta dừng lại để nhìn vào hoạt động của cảm xúc. Buồn là gì? Giận là gì? Việc nhìn thấy sâu xa hơn đòi hỏi không phải nhìn vào “tình tiết” của cảm xúc, nhưng là nhìn vào cách cảm xúc biểu lộ trong tâm và thân của chúng ta. Điều đó có nghĩa là chú ý đến việc khám phá bản chất thật sự của cảm xúc.
Theo nhà sư người Hoa Kỳ Ajahn Sumedho, trong khoảnh khắc tức giận hay hạnh phúc, chúng ta chỉ cần lưu ý: “Tức giận giống như thế này”, “Hạnh phúc giống như thế kia”. Tiếp cận với đời sống cảm xúc theo cách này hoàn toàn khác với bị chìm đắm dưới sức mạnh của cảm giác hoặc bị bắt lao theo sự luôn luôn biến đổi của tâm. Để thực hiện điều đó, chúng ta cần tu tập chánh niệm, chú ý và tập trung. Chúng ta không nên tìm cách cố gắng đè bẹp hay tống khứ cảm xúc. Tiến trình thiền quán là một sự mở cửa cho cảm giác. Từ cái nhìn thiền quán, câu hỏi được đặt ra là: “Tôi liên hệ với cảm xúc này như thế nào?Phải chăng tôi hoàn toàn đồng nhất với nó; hoặc phải chăng tâm tôi đủ rộng lớn để cảm nhận nỗi buồn, cơn giận, niềm vui, tình thương mà không bị trấn áp?”.

Tu tập hạnh xả bỏ

Khi tham thiền, hãy giữ sự chú tâm vào điều đang xảy ra: hơi thở, cảm thọ về thân, một niệm tưởng, một cảm xúc, và ngay cả chính sự nhận biết. Khi chúng ta giữ được một mức độ nào đó của chánh niệm và chấp nhận điều đang xảy ra,trong lúc tham thiền cũng như trong cuộc sống, chúng ta ít bị điều khiển bởi những sức mạnh từ khước hay chạy theo,hai sức mạnh lèo lái cuộc sống nhiều nhất. Trong tham thiền, chúng ta muốn nhận biết mọi điều đang xảy ra, cùng hiện diện với chúng, nhưng không bị chúng trói buộc. Chúng ta tu tập hạnh xả bỏ.
Một tính chất khác được phát triển trong tiến trình tham thiền là khả năng nhìn thấy sự hài hước về tâm, về cuộc sóng, và về những định kiến của chúng ta. Hài hước là một tính chất thiết yếu trên con đường tâm linh.Nếu hiện tại chúng ta không có tâm hài hước, tham thiền một thời gian thì chúng ta sẽ có, bởi vì khó mà nhìn vào tâm một cách vững chãi, điềm tĩnh và có phương pháp nếu không biết mỉm cười. Có người hỏi Lão sư Sasaki rằng ngài có khi nào đi xem phim không. Ngài trả lời: “Không. Tôi trả lời phỏng vấn”.
Vài năm trước, tôi tham dự khóa tịnh tu với Thiền sư Miến điện Sayadaw U Pandita. Ngài là một vị thầy nghiêm khắc, và mọi người tham dự khóa tịnh tu đều giữ rất im lặng, bước đi chậm rãi, và cố gắng giữ chánh niệm hoàn toàn. Đó là một khóa tu nghiêm mật. Trong giờ ăn, chúng tôi yên lặng bước vào phòng ăn, lấy thức ăn, giữ chánh niệm trong mỗi động tác.
Một ngày kia, người xếp hàng trước tôi bước đến bàn, mở nắp thùng thức ăn. Khi anh đặt chiếc nắp lên bàn thì nó rơi xuống sàn, tạo nên một tiếng ồn lớn. Một niệm liền khởi lên tâm tôi: “Không phải tôi làm!”. Niệm đó đến từ đâu? Với sự thức tỉnh, một người chỉ có thể mỉm cười với những vị khách không mời mà đến trong tâm như vậy.
Qua sự tu tập thiền quán, chúng ta sẽ thấy toàn bộ những hoạt động của tâm, những hình thức thô kệch cũng như những niệm tưởng và cảm thọ lành mạnh. Chúng ta biết cách hiện diện cùng với toàn bộ khung cảnh đang xảy ra. Khi biết chấp nhận nhiều hơn, chúng ta sẽ có một cái nhìn nhẹ nhàng hơn đối với những gì xảy ra. Và càng có cái nhìn nhẹ nhàng và biết chấp nhận hơn với chính bản thân, chúng ta sẽ có cái nhìn nhẹ nhàng và biết chấp nhận hơn đối với người khác. Chúng ta sẽ không có khuynh hướng đánh giá tâm thức của người khác một khi chúng ta đã nhìn thấy kỹ lưỡng tâm thức của chúng ta. Thi sĩ W.H. Auden nói: “Hãy thương yêu người hàng xóm cong vẹo của bạn bằng cả con tim cong vẹo của bạn”. Bao dung chấp nhận không có nghĩa là chúng ta hành xử với mọi sự việc đều như nhau. Tâm tỉnh thức cho chúng ta sự lựa chọn sáng suốt; chúng ta có thể lựa chọn giữa những gì có thể phát triển, trau dồi và những gì nên từ bỏ.
Giống như những thấu kính hội tụ của kính hiển vi cho phép chúng ta nhìn thấy những tầng bị che khuất của thực tại, sự tập trung của tâm sẽ mở ra cho chúng ta những tầng thể nghiệm sâu hơn và những hoạt động vi tế hơn của niệm tưởng và cảm xúc. Một trong những món quà của giáo pháp là luôn nhắc nhở rằng mỗi và mọi người trong chúng ta đều có thể thực hiện điều đó.

Thực hành hàng ngày

Với cuộc sống bận rộn trong thế giới phức tạp và xáo trộn ngày nay, đâu là những bước tu tập chúng ta có thể thực hành?
Trước tiên chúng ta cần lên chương trình về thời gian tham thiền thường xuyên mỗi ngày. Điều này đòi hỏi kỹ luật. Để ra một khoảng thời gian mỗi ngày cho tham thiền không phải là việc dễ thực hiện; quá nhiều việc khác réo gọi chúng ta. Nhưng cũng như bất cứ sự rèn luyện nào, nếu chúng ta thực tập thường xuyên, chúng ta sẽ hưởng được kết quả. Dĩ nhiên không phải lúc nào ngồi là có thể tập trung. Đôi khi chúng ta cảm thấy buồn chán hoặc không yên. Đó là những trạng thái lên xuống không tránh khỏi khi tu tập. Chính sự kiên trì và thường xuyên là điều quan trọng.
Sự rèn luyện trong tham thiền chỉ có thể xảy ra qua cố gắng cá nhân. Không người nào khác có thể làm điều đó cho chúng ta. Có nhiều kỹ thuật và truyền thống, và chúng ta có thể chọn một con đường thích hợp nhất cho mình. Nhưng sự thực hành thường xuyên vẫn là điều thiết yếu đưa đến chuyển hóa. Nếu chúng ta thực hành, sự chuyển hóa sẽ xảy đến; nếu không thực hành, chúng ta sẽ tiếp tục sống trong tình trạng bị điều khiển.
Bước tiếp theo là tập duy trì chánh niệm và thức giác về thân trong mọi lúc. Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường đánh mất mình trong những niệm tưởng về quá khứ hay vị lai. Tâm của chúng ta chạy trước chúng ta, hướng vào nơi chúng ta muốn đến thay vì dừng lại ở thân là chỗ chúng ta đang hiện diện.
Đức Phật đã trình bày rõ ràng và nhấn mạnh về sự tu tập này: “Chánh niệm về thân đưa đến Niết bàn”. Đây không phải là việc tu tập cạn cợt. Chánh niệm về thân giúp chúng ta hiện diện, và từ đó chúng ta biết điều gì xảy ra. Sự tu tập khó nhớ nhưng không khó thực hành. Đây là toàn bộ sự tu tập: ngồi đều đặn thường xuyên và giữ chánh niệm về thân trong mọi lúc.
Để phát triển định tâm và chánh niệm, để hiện diện nhiều hơn nơi thân, và để có sự tiếp cận thiện xảo với tưởng niệm và cảm xúc, chúng ta không những thực hành mỗi ngày, mà còn cần những khóa tịnh tu. Thỉnh thoảng thoát ra ngoài sự bận rộn của đời sống để tham dự những khóa tu tập nghiêm mật sẽ giúp rất nhiều cho chúng ta. Thời gian tịnh tu không phải là một sự xa xỉ. Nếu chúng ta dấn thân một cách chân thật và sâu xa cho sự giác ngộ giải thoát, tịnh tu là một phần thiết yếu trên con đường.
Chúng ta cần tạo một sự nhịp nhàng cho đời sống của chúng ta, thiết lập sự quân bình giữa thời gian lăn mình trong công việc thế gian và thời gian quay vào bên trong. Rumi, một thi sĩ thuộc giáo phái Sufi Hồi giáo, nói: “Một khoảng thời gian ngắn sống một mình sẽ có giá trị hơn bất cứ điều gì khác mà bạn được ban cho”.■

Joseph Goldstein

Thị Giới dịch (từ The Best Buddhist Writing 2008, edited by Melvin McLeod and the Editors of the Shambhala Sun)

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 91
http://tapchivanhoaphatgiao.com/

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

ĐI TÌM HẠNH PHÚC

... Bức tranh trần thế luôn hiện hữu sống động tại đây và bây giờ...Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai xảy ra trong từng sát na tạo nên khúc nhạc vô thường. Đó là cung điệu dặt dìu mất biên giới thời gian, như những giọt sương thu long lanh đậu trên búp non hoa lá, tuy hiện diện hoang sơ trong từng sát na hiện thực, nhưng khoảnh khắc an nhiên tịch tịnh đã trở thành thiên thu bất tử...




ĐI TÌM HẠNH PHÚC

Trời vào thu,
Trong xanh, gió mát
Từng chiếc lá rơi...rơi...
---
Chim trên cành
Hót véo von!
Rồi bay mất...
---
Cơn gió thoảng
Thấm thịt da...mát...lạnh!!
Đến rồi đi...
---
Lặng lẽ,
Nhìn giọt thu,
Trôi qua...Trôi qua...

Bức tranh trần thế luôn hiện hữu sống động tại đây và bây giờ...Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai xảy ra trong từng sát na tạo nên khúc nhạc vô thường. Đó là cung điệu dặt dìu mất biên giới thời gian, như những giọt sương thu long lanh đậu trên búp non hoa lá, tuy hiện diện hoang sơ trong từng sát na hiện thực, nhưng khoảnh khắc an nhiên tịch tịnh đã trở thành thiên thu bất tử.
Nàng gẫm lại chuỗi ngày đã lần lượt xảy ra trong đời như thể mới hôm qua.
Sinh ra và lớn lên ở Sydney. Nàng được giáo dục bởi hai nền văn minh Âu Á. Mang trong mình dòng máu Á châu, tuy sống ở phương Tây với tánh sôi nổi, phóng khoáng nhưng vẫn còn lại nét kín đáo, e thẹn, nhu mì của người con gái Đông phương thuần thục.
Ngay từ nhỏ, nàng rất yêu thích môn tiếng Việt, thích đọc tiểu thuyết, văn thơ, bằng tiếng Việt, ba mẹ rất cưng chìu, nên thời ấu thơ là những ngày thần tiên được nâng niu chìu chuộng. Nhưng tận cùng sâu thẳm của tâm hồn, nàng vẫn ưu tư thầm hỏi: "Hạnh phúc là gì?". Biết bao lần ngồi trầm ngâm bên song cửa sổ, ngước lên bầu trời trong xanh mây trắng để nàng thắc mắc con người đến Trần gian này với mục đích gì? Ý nghĩa thật sự của cuộc đời là gì? Cứ xoay vần từ thế hệ này sang thế hệ khác, mãi theo khuôn khổ giáo điều mà gia đình Xã hội đã đặt ra cho hết kiếp người. Phải chăng để loay hoay trong vòng trói buộc, cho đó là bến bờ an vui khi lập được công danh, đắp xây hạnh phúc gia đình, sanh con đẻ cái rồi trở về cát bụi. Câu trả lời là một bí mật, là một nỗi chán chường rời rã, như hàng cây cổ thụ trăm năm già khụ, đứng im lặng cuối đầu làm nhân chứng cho những chuyến xe ngược xuôi trong đêm trừ tịch quẩn quanh sầu phố bụi. Lý tưởng chưa thành thì bóng dâu đã xế, mang theo ý niệm thành dòng chảy không ngưng, là hình ảnh sắt se của nhành liễu rũ phân ly vĩnh biệt.
"Đi tìm kiếm hạnh phúc. Phải đi tìm hạnh phúc."
Nàng bắt đầu sự kiếm tìm vô hạn giữa mịt mù hữu hạn của kiếp nhân sinh.
Những năm ở Đại học, nhiều lần nàng muốn bỏ ngang nữa chừng để thực hiện ước mơ. Nhưng ba mẹ muốn nàng phải hoàn tất mảnh bằng Đại học.
Rồi ngày tốt nghiệp cũng tới, nàng thưa với ba mẹ:
- Con đã hoàn thành những gì ba mẹ đợi mong. Và bây giờ xin cho con thực hiện những điều con mơ ước...
- Con đã đủ lông đủ cánh. Nhưng từ đây con tự lo liệu lấy...Ba cố lấy giọng thản nhiên nói chuyện với con, trong khi mẹ quay mặt đi im lặng.
Không một lời đáp lại vì bản tính bướng gàn kiêu hãnh, nàng hiểu mình phải tự lập. Tốt nghiệp Đại học hạng ưu rồi được một công ty offer vào làm việc. Lao vào xã hội dành dụm được một ít tiền, nàng cùng cô bạn gái thời sinh viên thực hiện chuyến du lịch vòng quanh thế giới, để tìm cái mà từ lâu nàng ước ao gọi là " hạnh phúc"...
Họ đã dấn thân qua khá nhiều quốc gia. Để có tiền và thực hiện nhiều cuộc hành trình, đến nơi nào họ xin dạy Anh Văn nơi đó và kèm theo job partime... Cứ thế.... Nàng vẫn chưa thỏa mãn niềm mơ ước. Từng ngày trôi qua là một chiếc lá rời cành. Mỗi lần rộng mở cõi lòng nơi sở làm, biết quên mình để đóng góp cho đời, nàng chỉ nhận lại những dằng dặc tủi hờn xa lạ. Nàng phải tập quen dần với một xã hội mang hai mặt xấu tốt, khen chê, tật đố tương phản nhau không có chỗ trung gian. Đêm đêm nằm lắng đọng lại bao kỹ niệm hôm từ giã gia đình. Mẹ đã quay mặt giấu che nước mắt, nuốt ngược lệ vào tim để cho con được trưởng thành tự do trải nghiệm đời con. Đối diện với nỗi cô đơn khoảng trống của tâm hồn, nàng lại tìm cách lấp đầy những tạm bợ mong manh bằng cách di chuyển đến quốc gia xa lạ. Nàng ước mơ có một đại gia đình ấm cúng, tất cả thành viên là toàn thể con người trên trái đất, liên kết cùng nhau trong loại tình thương bình đẳng đại đồng.
Nàng có biết đâu những kiếm tìm chỉ là ảo ảnh, như kẻ lạc đường đi trong sa mạc, như ngọn sóng bạc đầu mãi gầm thét vươn tay chới với, quên mất lòng biển sâu thanh tịnh mênh mông mới là chân hạnh phúc vi diệu ngọt ngào. Đi hay về cùng một nghĩa như nhau. Chưa nhìn rõ mặt mình sao cứ muốn thăng hoa ước mơ về nẽo khác.
Gần 5 năm đi tìm cái bóng hạnh phúc nơi ồn ào náo động để thỏa mãn tham vọng riêng tư mà nàng cho rằng mình đang đi tìm hạnh phúc. Nàng chưa hiểu được chỉ cần nội tâm ổn định, tỉnh thức thân tâm từng phút giây động tịnh và trong sáng, không buông lung phóng dật theo bên ngoài, là chân hạnh phúc hiện ra ngay nơi không tìm kiếm, hiện ra ngay cái đang là.
Hạnh phúc không có khoảng cách để đi đến nên không phải là một nơi chốn để kiếm tìm. Hạnh phúc không phải để ta phải hướng vọng về phía trước, mà chính là ở ngay nơi đó hồi đầu. Nàng đã hành động chìu theo ý muốn của mình và đã bị ràng buộc trong chính ý muốn ấy, nên nàng đã mất hạnh phúc ngay từ khởi điểm.
Quá mệt mỏi vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ, nhớ chị nhớ em. Nàng trở về thăm nhà, dự tính nghỉ ngơi vài tuần rồi sẽ thực hiện những chuyến đi kế tiếp.
Mẹ đứng sững nhìn nàng đôi môi mấp máy run run không thốt được nửa lời! Bất chợt mĩm cười sung sướng, mẹ dang rộng đôi tay khi lệ chảy thành hàng trên khóe mắt chân chim. Con hiểu trái tim mẹ luôn theo sát gót chân con trên nẽo đường xuôi ngược, Mẹ ơi! Con thèm được khóc! Con thèm được sà vào lòng mẹ, như ngày xưa mẹ thường lau nước mắt cho con. Thời gian lưu lạc bốn phương trời, con có được gì đâu ngoài trái tim hằn sâu nhiều vết cứa! Hạnh phúc con là những tiếng thở dài theo từng bước chân qua. Con nhớ ba nhiều lắm! Những tự đại khát khao thầm kín, con phải đi khám phá chân lý cuộc đời, đã ngăn lại những lời than vãn của con.
Mẹ nàng thường vào trang Pháp thoại của website "trungtamhotong.org", vặn lên nghe để học hỏi. Nàng cũng nghe, nhưng không có sự chú tâm nên chẳng hiểu những bài Pháp thoại đó ám chỉ điều gì?
Chiều nay, nàng đang tựa cửa, từng chiếc lá vàng lìa cành nhảy múa theo cơn gió đang rung điệu nhạc rì rào, lã lướt vũ khúc ngoài song trước khi nằm gọn trong vòng tay bao dung của đất. Văng vẳng bên tai: "...Lắng nghe từng cơn gió thoảng, vẻ đẹp chiếc lá vàng rơi...". Thảng thốt đến độ nàng giật run bắn cả người:" A! Nó đây rồi! ". Nàng vừa chợt nhận ra một điều gì đó mới mẽ tuyệt vời bừng bừng ngay phút giây hiện tại... Một trạng thái im lặng tuyệt đối! Ta đã chết trong khoảnh khắc mà không và thời gian mất dấu, chỉ còn lại sự sống bao la, phong phú, tịch tịnh ngập tràn chân phúc.

Chiếc lá vàng buông mình chơi trong gió
Vẫy tay chào bày tỏ cuộc tương giao
Rồi luân hồi theo điệp khúc tiêu dao
Lại nhập cuộc như thuở nào tịch tĩnh.




Nàng chợt ngộ ra "Bình thường tâm thị đạo"! Vẫn ung dung thoải mái sống bình thường trở về tự tánh vốn đã muôn đời thanh tịnh. Sống xả ly dứt khoát những đại mộng phi thường, bất thường và tầm thường, để an nhiên trở lại với cái bình thường. Nhưng bình thường không có nghĩa là buông xuôi để bị cuốn trôi theo dòng nghiệp mệnh. Dĩ nhiên trong cuộc sống nhiều lúc nàng phải tranh đấu để có miếng ăn. Nhưng tranh đấu không phải là tranh giành, thủ đoạn, mà chỉ là sự siêng năng cần mẫn để chịu đựng những khó khăn với lòng kiên nhẫn bao dung. Trong đôi mắt xanh nhìn đời luôn mới mẻ, thật ngạc nhiên pha lẫn nét hồn nhiên.. Nàng đã hiểu vẻ đẹp ngàn đời còn nguyên vẹn đó. Vấn đề là nàng cần phải trải nghiệm, mới hòa nhập vào thế giới bình thường muôn thuở của:

Tự do là ung dung trong ràng buộc
Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau
* (Viên Minh)




Viên Hướng - Như Tuệ

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Một bài thơ của nhà sư Buddhadasa

Buddhadasa Bikkhu (1906-1993) là một nhà sư Thái Lan thật uyên bác và khác thường. Tư tưởng và sự hiểu biết về Đạo Pháp của ông vượt lên trên những hình thức màu mè của một tín ngưỡng, loại bỏ được tất cả những thêm thắt và diễn đạt không thể tránh khỏi của người sau suốt trên dòng lịch sử phát triển lâu dài của Phật Giáo.


Hai trong số các quan điểm chính yếu nhất của ông về Phật Giáo là trước hết ông chỉ quan tâm đến kiếp sống hiện tại và không giảng hay đề cập đến các kiếp sống quá khứ cũng như tương lai, và sau đó, đối với ông thì "tam giới" (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) cũng như "lục đạo" (địa ngục, quỷ, súc sinh, A-tu-la, người và trời) cũng chỉ là những thể dạng biến đổi và tiếp nối của tâm thức trong kiếp sống hiện tại mà thôi, nói cách khác là chúng ta đang luân hồi trong từng khoảnh khắc một trong kiếp sống này.
Bài thơ dưới đây được ông viết vào năm 1988, tức là năm năm trước khi ông qua đời, và đã được rất nhiều người biết đến vì nội dung thật nhân bản và khoan dung của nó. Bài thơ cũng đã được đăng tải trên rất nhiều trang web của Thái Lan cũng như trên toàn thế giới. Một Phật tử Thái Lan "vô danh" đã dịch bài thơ này sang tiếng Anh với sự giúp đỡ của một tỳ kheo người Mỹ vào năm 1993, tức vào năm Buddhadasa Bikkhu qua đời. Tuy người Phật tử Thái trên đây không cho biết người tỳ kheo hiệu đính bản tiếng Anh là ai, thế nhưng cũng có thể nghĩ rằng vị này là một đệ tử trẻ người Mỹ của Buddhadasa mang pháp danh là Santikaro Bikkhu, đã từng dịch nhiều bài giảng và thơ của ông.
Gần đây hơn là vào năm 2011, một học giả Pháp là ông Louis Gabauche, cựu thành viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française dExtrême Orient) đã dịch bài thơ của Buddhadasa sang tiếng Pháp.
Bài thơ của Buddhadasa không mang tựa đề gì cả mà chỉ ghi bên dưới là làm tại Suan Mokkh (Khu vườn Giác Ngộ) ngày 22 tháng 5, Phật Lịch 2531 (tức là năm 1988). Louis Gabauche cũng có đề nghị ghép thêm cho bài thơ này một cái tựa: "Những kẻ khác... và chúng ta" (Les autres... et nous). Thật ra bài thơ của Buddhadasa không cần phải có một cái tựa nào cả hầu nói lên ý nghĩa của nó, bởi vì từng vần trong bài thơ tự nó cũng đã nói lên được lòng bao dung và độ lượng của một con người tu hành chân chính. Tuy nhiên người dịch sang tiếng Việt cũng mạn phép nghĩ rằng một cái tựa nào đó chẳng hạn như "Giữa con người với nhau"biết đâu cũng có thể mang lại một chút tiền vị hầu có thể giúp chúng ta bước vào bầu không gian rộng mở trong lòng nhà sư Buddhadasa được dễ dàng hơn chăng?

TREAT EACH HUMAN FRIEND BY THINKING THAT:

Hãy xem mỗi con người là bạn ta và nghĩ rằng:
He is our friend who was born to be old, become ill, and die, together with us.
Người ấy là bạn ta, cùng sinh ra đời để rồi sẽ già nua, bệnh tật và chết cùng ta.
He is our friend swimming around in the changing cycles with us.
Người ấy là bạn ta, cùng ngụp lặn với ta trong vòng sinh diệt.
He is under the power of defilements like us, hence he sometimes errs.
Người ấy cũng vướng bụi trần ô nhiễm như ta, do đó đôi khi cũng phạm vào lầm lỗi.
He also has lust, hatred, and delusion, no less than we.
Người ấy cũng mang đầy dục vọng, thù hận và mê lầm, nào có khác ta đâu!
He therefore errs sometimes, like us.
Cũng như ta, người ấy cũng lắm khi nhầm lẫn.
He neither knows why he was born nor knows nibbana, just the same as us.
Người ấy cũng chẳng biết tại sao mình lại sinh ra đời, và cũng chẳng biết thế nào là niết bàn, quả là giống y như ta!
He is stupid in some things like we used to be.
Có những thứ mà người ấy cũng ngô nghê như ta trước đây.
He does some things accordingly to his own likes, the same as we used to do.
Người ấy cũng làm những thứ theo sở thích mình, như ta cũng từng làm trước đây.
He also wants to be good, as well as we who want even more to be good - outstanding - famous.
Người ấy cũng muốn mình giỏi giang, cũng như chính ta luôn muốn mình giỏi hơn, sáng chói hơn, danh tiếng hơn.
He often takes much and much more from others whenever he has a chance, just like us.
Người ấy thường chiếm lấy thật nhiều những gì của kẻ khác mỗi khi có cơ hội, nào có khác gì ta đâu!
He has the right to be madly good, drunkenly good, deludedly good, and drowning in good, just like us.
Người ấy có quyền cuồng điên, say mê, đắm mình trong cái tốt đẹp, cũng như ta vậy.
He is an ordinary man attached to many things, just like us.
Người ấy là một kẻ bình thường với bao nhiêu thứ ràng buộc, cũng như ta vậy thôi.
He does not have the duty to suffer or die for us.
Người ấy nào có bổn phận phải gánh chịu khổ đau và chết thay cho ta đâu.
He is our friend of the same nation and religion.
Người ấy là một người bạn cùng quê hương và tín ngưỡng với ta.
He does things impetuously and abruptly just as we do.
Chẳng khác gì ta, người ấy cũng hành động bồng bột và thiếu suy nghĩ.
He has the duty to be responsible for his own family, not for ours.
Người ấy có bổn phận với gia đình mình chứ nào có trách nhiệm gì với gia đình của ta đâu.
He has the right to his own tastes and preferences.
Người ấy có quyền chạy theo các sở thích và những thú vui riêng.
He has the right to choose anything (even a religion) for his own satisfaction.
Người ấy có quyền chọn lựa bất cứ gì (kể cả tôn giáo) theo sở thích của mình.
He has the right to share equally with us the public property.
Người ấy có quyền thụ hưởng các tiện nghi công cộng ngang hàng với ta.
He has the right to be neurotic or mad as well as we.
Người ấy có quyền để cho tâm thần bấn loạn và điên rồ, chẳng khác gì với ta.
He has the right to ask for help and sympathy from us.
Người ấy có quyền kêu gọi sự giúp đỡ và chờ đợi sự ân cần xót thương của ta.
He has the right to be forgiven by us according to the circumstances.
Người ấy có quyền được ta tha thứ tùy theo từng hoàn cảnh.
He has the right to be socialist or libertarian in accordance with his own disposition.
Người ấy có quyền theo xã hội chủ nghĩa hay chế độ tự do tùy theo hoàn cảnh đẩy đưa.
He has the right to be selfish before thinking of others.
Người ấy có quyền ích kỷ trước khi nghĩ đến kẻ khác.
He has the human right, equal to us, to be in this world.
Người ấy được hưởng nhân quyền ngang hàng với ta trong thế giới này.
If we think in these ways, no conflicts will occur.
Nếu tất cả chúng ta đều biết nghĩ suy như thế thì xung đột nào có thể xảy ra!

Buddhadasa Indapanno
Mokkhabalarama, Chaiya
22 tháng 5, Phật Lịch 2531 (1988)
[Một Phật tử vô danh đặt hết lòng tin nơi lòng nhân ái và từ bi vô biên của nhà sư Buddhadhasa nên đã mạn phép được dịch bài thơ này của ông sang tiếng Anh, với sự giúp đỡ của một tỳ kheo người Mỹ.
Ngày 2, tháng 6, Phật Lịch 2536 (1993)]

Di bút của nhà sư Buddhadasa Bikkhu về bài thơ này:

(Bures-Sur-Yvette, 05.03.13
Hoang Phong chuyển ngữ
)

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

ĐỊNH NGHĨA
Hồi đầu là quay đầu trở lại hay xoay đầu trở lại. Thị ngạn: chính ngay đó là bờ mé. Đây là một câu người học Phật thường nghe nói, song ý nghĩa ngầm chứa trong đó không dễ gì hiểu hết một cách hời hợt được. Nói quay đầu lại, nhưng quay lại đâu? Rồi chính đó là bờ mé, nhưng là bờ mé gì? Chỗ này thì không thể nói suông, giải thích suông mà được, mà là một sự thể nghiệm chân thật ngay chính mình mới rõ suốt. Để rõ điểm này, xin dẫn chuyện Ngài Văn Thù - Tư Nghiệp.

Sư trước kia sống bằng nghề đồ tể. Một hôm, nhân lúc sửa soạn giết một con heo, bỗng nhiên Sư triệt ngộ bản tánh chính mình, và làm bài kệ:
Tạc nhật Dạ-xoa tâm,
Kim triêu Bồ-tát diện.
Bồ-tát dữ Dạ-xoa,
Bất cách nhất điều tuyến.
Dịch:
Hôm qua lòng Dạ-xoa,
Sáng nay mặt Bồ-tát.
Bồ-tát và Dạ-xoa,
Chẳng cách một kẽ tóc.
Sau đó, Sư đến gặp Thiền sư Đạo ở viện Văn Thù, Đạo hỏi:
- Trong lúc giết heo, ông thấy cái gì mà cạo đầu đi tham bái hỏi thiền?
Sư không nói một lời, đứng im làm thế đang mài dao.
(Tục Truyền Đăng, quyển 31)
Như vậy, làm Dạ-xoa, từ đâu mà làm? Từ "TÂM" thôi chớ gì? Nhưng là tâm ngu si, tâm hung ác. Làm Bồ-tát từ đâu mà làm? Cũng chính từ "TÂM" thôi, ngoài tâm lấy gì làm Bồ-tát? Nhưng là tâm từ bi, giác ngộ. Nếu ngoài tâm, lấy gì gọi là ngu si, hung ác? Lấy gì gọi là từ bi, giác ngộ? Cho nên, Dạ-xoa hay Bồ-tát cũng ngay tâm mình thôi, chỉ cần tỉnh ngộ trở lại là xong, không phải tìm Bồ-tát ở đâu xa. Xem Ngài Tư Nghiệp, xưa kia cũng mài dao mà mê, giờ đây cũng mài dao mà giác. Song trong chỗ này làm sao diễn tả cho người hiểu? Cho nên chỉ im lặng làm thế mài dao, dành cho người tự chứng biết thôi. "Quay đầu lại chính đó là bờ mé", thật có nhiều ý nghĩa nói không thể hết, không thể định nghĩa theo ngôn ngữ, danh từ thông thường mà cho là đã đủ, cần phải có một sự thức tỉnh sâu xa tận nguồn tâmmới không hổ thẹn.

 ĐÁNH THỨC TÂM CHẠY TÌM BÊN NGOÀI

Nói "quay đầu là bờ mé", là để đánh thức trở lại những tâm đang chạy tìm kiếm lang thang bên ngoài. Chính bệnh hướng ngoại là bệnh chung của con người. Nhưng không có gì lạ, bởi gốc do mê mất "bản tâm" từ lâu, không còn nhớ biết mình là gì, nên cứ chạy đuổi theo ngoại trần, luôn luôn tìm kiếm những cái từ bên ngoài. Dù nói học đạo, vẫn cứ muốn tìm học ở đâu đâu, nếu bảo học đạo mà "không chỗ học", có chịu chăng?
Chúng ta nhìn kỹ lại, ngày nay khoa học đã tiến bộ đến mức thật là siêu, nhưng vẫn là luôn tìm kiếm bên ngoài. Do đó càng tìm, càng thấy còn nhiều điều chưa biết, chưa hiểu! Bởi sức người có hạn, vũ trụ thì bao la, tìm bao giờ cho trọn? Tìm chưa gì thì đã hết một đời người rồi! Câu hỏi vẫn còn luôn để sẵn đó.
Trong đạo, nhất là thiền thì luôn luôn đánh thức chúng ta phải tự soi trở lại gốc, biết GỐC thì rõ ngọn không phải lo ngại gì. Song gốc là gì? Chính là "khéo nhận BẢN TÂM". Bởi dù có cảnh mà không có tâm, thì cảnh đó có cũng như không, chỉ là cảnh chết, không thành vấn đề. Cũng như ngay đây, người sống mà không có tâm, thì sống cũng như chết thôi. Có điều, đã là BẢN TÂM CHÍNH MÌNH, lại phải đi tìm ở đâu? Quả thật càng tìm, càng xa! Như bài kệ Vua Trần Thái Tông nói về núi thứ nhất:
Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm,
Khước bối vô sanh thọ hữu sanh.
Tỷ trước chư hương thiệt tham vị,
Nhãn manh chúng sắc, nhĩ văn thinh.
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.
Tạm dịch:
Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền trái không sanh nhận có sanh.
Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị,
Mắt mờ chúng sắc, tai đuổi thinh,
Lang thang làm khách phong trần mãi,
Ngày cách quê hương muôn dặm trình.
Nghĩa là, ngay trong vô niệm, đang sống trong vô niệm đó, nhưng vừa động khởi, liền rơi vào hữu niệm. Đã có niệm, tức là đi vào trong sanh tử, là trái với THỂ VÔ SANH từ muôn thuở rồi. Chính ngay chỗ đó, là chỗ mê mất bản tâm. Do mê mất bản tâm, nên cứ lang thang trong sáu trần cảnh, cứ buông cái này, bắt cái kia, chạy mãi luân hồi trong sáu nẻo, quên hẳn cả đường về! Trong khi đó, đường về vẫn ở ngay trước mắt! Giờ đây, dù có nghe nói đến bản tâm, song cũng tưởng tượng là cái gì đó, ở đâu đâu, nên lại đi tìm nữa, thật tự đáng thương cho chính mình là đấy!
Chư Tổ đã nhận được chỗ này, nên cảm thấy thương xót vô cùng, do đó các Ngài bằng nhiều phương tiện đánh thức cho người tỉnh lại: CHÍNH CÁI ĐANG CHẠY TÌM ĐÓ, LÀ GÌ? Đâu từng thiếu vắng bao giờ ?
Ngài Đức Sơn một hôm thượng đường bảo:
- Đêm nay chẳng đáp thoại, ai thưa hỏi sẽ ăn ba mươi gậy.
Lúc đó có vị tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh. Tăng thưa:
- Con chưa thốt lời hỏi, vì sao Hòa thượng đánh con?
Sư bảo:
- Ông là người ở đâu?
Tăng thưa:
- Dạ, người Tân La.
Sư bảo:
- Ông chưa bước xuống thuyền, đã đáng ăn ba mươi gậy rồi!

Tại sao chưa bước xuống thuyền đã đáng ăn ba mươi gậy rồi? Đó là Sư muốn đánh thức, "việc này" vốn sẵn nơi mình lại chẳng nhận, bước xuống thuyền tức là bỏ đó mà đi tìm, từ bên Tân La tức Triều Tiên mà chạy sang Trung Hoa tìm hỏi, thì không đáng ăn gậy sao ?
Cũng vậy, Thạch Củng lúc là thợ săn đuổi theo con nai đến gặp Mã Tổ, Mã Tổ hỏi:
- Chú bắn giỏi chăng ?
Thạch Củng đáp:
- Dạ, bắn giỏi.
- Một mũi tên chú bắn được mấy con ?
- Một mũi tên bắn một con.
- Chú bắn không giỏi.
- Hòa thượng bắn giỏi chăng ?
- Bắn giỏi.
- Một mũi Hòa thượng bắn mấy con ?
- Bắn một bầy.
- Vì sinh mạng chúng nó, đâu được bắn một bầy ?
- Chú đã biết như vậy, sao không tự bắn đi ?
- Nếu dạy tôi tự bắn, tức không chỗ hạ thủ.
- Chú này phiền não vô minh nhiều đời, ngày nay chóng dứt.

Đây là Mã Tổ muốn đánh thức Thạch Củng, thay vì cứ lo đuổi bắn bên ngoài, quên mình theo vật, theo cảnh, đành làm thợ săn lang thang tạo nghiệp, sao không thức tỉnh trở lại, tự bắn chính mình đi! Tức là nhận trở lại chính mình chân thật! Song chính mình thì có chỗ nào để bắn?
Cho nên, Thạch Củng khéo đáp: "Nếu dạy tôi tự bắn, tức không chỗ hạ thủ". 
Thấy đến như thế, tức là sáng tâm, là ngộ trở lại gốc, chính ngay đó là BỜ GIÁC: Buông cung tên, thành Thiền sư - trên kia thì buông dao mổ heo, thành Thiền sư, đồng một đường không khác.
Triệu Châu cũng từng hỏi Hòa thượng Nam Tuyền:
- Thế nào là đạo?
Nam Tuyền đáp:
- Tâm bình thường là đạo.
- Có thể nhằm tiến đến chăng?
- Nếu nghĩ muốn tiến đến liền trái.
Đạo chính ngay tâm bình thường hiện tiền đây mà chưa khởi động niệm đó thôi. Nghĩ tiến đến, tức biến nó thành ra cái đối tượng bên ngoài mình rồi, thì quả tang ngay đó liền trái với nó!
Để rõ thêm điểm này, chúng ta hãy lắng nghe kỹ chuyện Ngưỡng Sơn với Quy Sơn. Một hôm, Sư về thăm Quy Sơn, Quy Sơn hỏi:
- Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có hay không có?
Sư thưa:
- Con có chỗ kinh nghiệm.
Ngay lúc đó, có vị tăng đi qua trước mặt, Sư gọi:
- Xà-lê!
Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa:
- Bạch Hòa thượng, chính cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa đó!
Quy Sơn bảo:
- Quả đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa!

Vậy nghiệp thức mênh mang ở chỗ nào? Nghe gọi, theo tiếng gọi xoay đầu, chính đó là nghiệp thức mênh mang không biết từ thuở nào chứ gì? Song, ngay đó liền tỉnh ngộ: "Cái gì đang biết xoay đầu đó ?", liền nhổ sạch gốc rễ từ muôn thuở, sáng tỏ trở lại nguồn chân, có nhọc gì? Quả thực, MÊ - NGỘ đâu có cách xa? Chỉ: theo tiếng là mê, rõ tánh là giác, vậy thôi. Mê không thật có cái thể mê nên nói không gốc có thể tựa. Bởi không gốc, cho nên giác liền xong, cũng không có cái mê gì để trừ: ý nghĩa "xoay đầu là bờ mé" quá rõ ràng, còn nghi ngờ gì nữa?

 TRỪ NIỆM KIA ĐÂY
Thường chúng ta hay nghe nói tu hành phải đạt đến bờ kia, rồi khởi tưởng có bờ này. Tức bỏ bờ này, đếnbờ kia, bị lầm theo ngôn ngữ văn tự mà không hay biết! Nếu còn thấy có bờ này, bờ kia, tức là chưa mở con mắt tuệ, chưa phải là Bát-nhã chân thật. Lục Tổ trong phẩm Bát-nhã của kinh Pháp Bảo Đàn đã dạy: "Ba-la-mật dịch là đến bờ kia, giải nghĩa là lìa sanh diệt. Chấp trước cảnh thì sanh diệt khởi, như nước dậy sóng mòi, tức là bờ này. Lìa cảnh thì không sanh diệt, như nước thường trôi chảy, tức gọi là bờ kia."
Đây Lục Tổ đã nói rất rõ, bờ này, bờ kia chỉ ngay tâm này thôi. Tâm theo cảnh, đi vào sanh diệt, như nước dậy sóng, gọi là bờ này. Tâm lìa cảnh, khế hợp với vô sanh, như nước thường trôi chảy, gọi là bờ kia. Dậy sóng hay thường trôi chảy cũng chỉ là NƯỚC thôi. Theo cảnh hay lìa cảnh cũng chỉ là TÂM thôi. Vậy thì nói gì cố định là bờ này, bờ kia? Đây là khiến cho người phải nhảy một cái nhảy, qua văn tự chữ nghĩa, không kẹt nơi ý niệm kia đây, thì Bát-nhã chân thật luôn luôn hiện tiền, sờ sờ ngay trước mắt, còn phải tìm nơi đâu?
Ông Tú tài Trương Chuyết khi được Ngài Thạch Sương khai thị, tỏ sáng, có làm bài kệ, trong đó có câu:
Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh,
Thú hướng chân như tổng thị tà.
Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại,
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Tạm dịch:
Phá trừ phiền não càng thêm bệnh,
Tìm đến chân như cũng là tà.
Tùy thuận các duyên không quái ngại,
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
Nghĩa là còn thấy có trừ phiền não, có đến chân như, tức còn thấy có hai, còn tâm kia đây, lấy bỏ là chưa thấy đạo, là còn đi lệch bên ngoài, nên gọi "cũng là tà". Nếu rõ được chính mình ngay trong tất cả, thì đối mọi duyên đều sáng ngời không mê. Vậy có gì ngăn ngại mà bỏ đây tìm kia? Niết-bàn, sanh tử ở ngay tự tâm thôi, đâu phải ở cõi nào khác từ bên ngoài? Chính cái niệm kia đây là chỗ chướng ngại cho mình. Có câu chuyện, hai vị Thượng tọa ở thành đô đến gặp Thiền sư Huệ Minh, Sư hỏi:
- Thượng tọa đến đây thì ở Thành đô thiếu Thượng tọa, ở đây dư Thượng tọa. Dư thì ngoài tâm có pháp, thiếu thì tâm pháp chẳng khắp, nói được thì ở, nói chẳng được thì hãy đi.
Hai vị đều không đáp được.

Trong đây có ai nói được? Tại sao hai vị không đáp được? Chỉ vì trong lòng còn chứa đựng niệm kia đây, kẹt trên thân tướng này. Bởi y cứ trên thân tướng này, mới có thân ở đây, thân ở kia, còn trên TÂM THỂ CHÂN THẬT ẤY, thì có tướng gì mà nói đây kia? Cho nên hỏi đó, là gạn lại chỗ thấy của người xem đã THẤY TÁNH hay chưa? TÁNH thì luôn luôn lúc nào cũng hiện tiền nơi mình, có gì là đây kia, mà nói dư, nói thiếu? Nghe nói dư thiếu, đây kia liền theo đó tưởng tượng sanh hiểu nên thành ngăn ngại. Quả thật bị gạt mà không hay! Ý nghĩa xoay đầu là bờ mé, càng quá rõ!

 Ý NGHĨA HỒI ĐẦU THỊ NGẠN VỚI THIỀN ĐỐN NGỘ
Với tinh thần của Thiền đốn ngộ, chúng ta thấy ý nghĩa trên đây càng sâu, không thể giải thích dễ dàng theo chữ nghĩa. Như Linh Mặc đến chỗ Hòa thượng Thạch Đầu thưa hỏi không khế hợp, Sư liền đi ra. Thạch Đầu đi theo sau đến cổng, liền gọi:
- Xà-lê!
Sư xoay đầu lại. Thạch Đầu bảo:
- Từ sanh đến tử chỉ là thế ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?
Sư liền đại ngộ.

Như vậy, mới đó, trước khi xoay đầu là còn mê, rồi xoay đầu lại liền ngộ, chỉ trong một cái xoay đầu thôi, không phải quay đầu là bờ mé sao? Cái ngộ đó ở đâu chạy lại? Trong đó cái gì là thêm bớt, đây kia? Cũng như Đức Phật thành đạo khi sao Mai mọc. Trước khi sao Mai mọc, Ngài chưa thành đạo; sau khi sao Mai mọc liền thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đó ở đâu chạy lại mau như vậy? Rõ ràng thành đó, là thành ngay tự tâm giác ngộ thôi, không có ở đâu khác. Ngoài tâm lấy gì thành? Nếu ngoài tâm mà có đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác để thành, thì đó là cái Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong sách vở rồi! Cần phải xoay lại ngay tự tâm mới là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sống, trái lại là đạo Vô thượng chết!
Và đây, trường hợp ông cư sĩ Phạm Xung làm Tả thừa, tự là Trí Hư, ông đến gặp Thiền sư Mân ở viện Viên Thông. Uống trà xong, ông thưa:
- Con sắp già rồi mà còn rơi vào con đường quan, nên cách việc này hơi xa.
Thiền sư Mân gọi:
- Nội hàn!
Ông ứng:
- Dạ!
Sư bảo:
- Có xa đâu?
Ông vui mừng thưa:
- Xin thầy lặp lại lời chỉ dạy.
Sư bảo:
- Từ đây đến Hồng Đô có bốn lộ trình.
Ông đứng suy nghĩ. Sư bảo:
- Thấy tức liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ông chợt có tỉnh.

Ông cư sĩ Phạm Xung cứ tưởng là việc này ở đâu đó, cách xa không với tới, nào ngờ ngay tiếng gọi, liền dạ, ai không có? Phải đợi thời gian gì? Cái "biết dạ" đó từ đâu chạy tới? Còn có gì nhanh hơn, gì thực tế hơn? Trong đây ai không có quyền nhận? Chỉ có điều quan trọng là phải chân thật với chính mình.Thiền sư Thiên Quế từng nhắc đệ tử: "Các ông phải chân thật trong mọi việc, không có gì chân thật trong đời mà không chân thật trong Phật pháp, và không có gì không chân thật trong Phật pháp, lại chân thật trong đời."
Sư cũng nói: "Thấy bằng mắt, nghe bằng tai, không có gì trên đời ẩn giấu, các ông muốn ta nói gì nữa?"
(Những nụ cười Thiền)
Nghĩa là, chúng ta cần chân thật ngay chính mình, không tự lừa dối mình bằng những niệm kia đây, thì hiện tại THẤY, NGHE đều nhiệm mầu, đều sáng ngời ánh sáng Chánh Giác, không qua văn tự chữ nghĩa. Sách vở làm sao ghi được cái này? Song trong đây có ai đã thực sự chân thật với chính mình chưa? Một lẽ thật một trăm phần trăm như vậy, tại sao không thấy? Lỗi tại ai?
Kìa, Sùng Tín theo hầu Hòa thượng Đạo Ngộ một thời gian lâu. Một hôm Sư thưa:
- Từ ngày con vào đây đến nay, chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu.
Đạo Ngộ bảo:
- Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.
Sư thưa:
- Chỉ dạy ở chỗ nào?
Đạo Ngộ bảo:
- Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp; ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận; ngươi xá lui, ta vì ngươi mà gật đầu, có chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi đâu?
Sư cúi đầu lặng thinh giây lâu. Đạo Ngộ bảo:
- Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay câu nói đó, Sư tỏ ngộ.

Bởi Sư cứ tưởng tâm yếu là cái gì cao xa, ở đâu đâu, nên cứ trông chờ, mong mỏi. Không ngờ chính chỗ sống hàng ngày mà tự mê thôi. Điểm cần chú ý là: "Nhận thì liền nhận, suy nghĩ liền sai." Ngay một cử chỉ, hành động đó, mà chưa qua suy nghĩ, chưa có cái ta xen vào thì có gì che mờ được nó? Ngay đó vẫn sáng ngời, ai không có ?
Cũng như, ngay cái xoay đầu mà chưa kịp suy nghĩ thì "cái gì biết xoay ?" Cần thấy, có cái đầu thì dùng cái đầu xoay, nếu không đầu lấy cái gì xoay? Phải thấy qua cái đầu. Ngay cái xoay đầu mà quên mất chỗ xoay, tự sống dậy trong đó xưa nay chưa từng xoay chuyển, vẫn hằng như thế, còn ai dối gạt được mình? Liền đó quên hết bờ này, bờ kia, chính ngay đó là Đạo, còn tìm đâu nữa? Thật thẳng tắt vô cùng, đâu còn con đường nào hơn! Sáng được chỗ này, thì chính ngay đó là Phật ra đời, và Phật có thể ra đời bất cứ lúc nào, chỉ người có nhận hay không thôi!

CHÂN THẬT CHÍNH MÌNH LÀ ĐÂY
Nói dài dòng, rốt cùng chỉ ngay cái sống hằng ngày đây là đủ tất cả, không thiếu thốn. Chỉ cần NHỚ lại là xong! Bởi gọi là MÊ, tức là quên chứ gì? Mà quên cái gì? Quên cái sẵn có thôi!Ngay đây nhớ lại, là Giác. Chỉ một chút Quên với Nhớ mà tự làm cách biệt xa xôi như trời với đất!
Trong Thiền sử có câu chuyện Thiền sư Trí Thông ở trong hội của Hòa thượng Quy Tông, một hôm đang giữa đêm khuya bỗng la lên:
- Tôi đại ngộ rồi! Tôi đại ngộ rồi!
Sáng ra, Quy Tông hỏi:
- Đêm rồi ai la đại ngộ hãy ra đây xem!
Sư ra thưa:
- Dạ, con.
Quy Tông hỏi:
- Ông thấy cái gì?
Sư thưa:
- Sư cô nguyên là người nữ làm.

Người nghe nói NGỘ, cứ tưởng tượng là cái gì đó thật lạ lùng, kỳ đặc, không ngờ rất đơn giản, không chút màu mè. Ngộ cái gì? "Sư cô vốn là người nữ", vậy thôi! Ai hiểu thế nào thì hiểu! Người không biết, tự làm ra vẻ kỳ đặc, khác thường, để tỏ cho người biết "ta đã ngộ", chính đó là bệnh, biểu lộ tướng ngã mà không hay!
Tóm lại, chân thật là ở ngay chính mình, xoay lại tự tâm là GỐC tất cả pháp, chạy ra ngoài là mê. Để kết thúc, xin dẫn câu chuyện: Có bà già đến Thiền sư Đại Đồng thưa:
- Nhà tôi vừa mất trâu, thỉnh thầy bói xem!
Sư liền gọi:
- Bà lão!
Bà ứng:
- Dạ!
Sư bảo:
- Đây rồi!
Bà vui vẻ ra về.

Như vậy, trâu có mất đi đâu? Có được ở chỗ nào? Nghe gọi, liền dạ thì trâu vẫn còn đó, vẫn rất là ngoan mà! Chỉ chợt "À!" lên là xong. Quay đầu lại, ngay đó là Bờ Mé, chớ thêm gì khác nữa!

TT Thích Thông Phương 
(Thiền viện Thường Chiếu)

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

CON ĐƯỜNG TU CHỨNG

Tu tập tự thân chính là công phu quan trọng nhất trong toàn bộ cái gọi là Phật giáo. Từ việc ổn định một nội tâm phóng tán, giải trừ những ngộ nhận, cho đến khả năng trấn an những nổi đau và tìm thấy một suối nguồn an lạc ,…Tất thảy đều chỉ có thể thành tựu từ sự tu tập và con đường tu tập đó không gì hơn được pháp môn Tuệ Quán, tức con đường quán niệm Tứ Niệm Xứ.
Và nếu nói nôm na hơn nữa thì dầu có gọi bằng từ ngữ gì, có lẽ cũng không ngắn gọn bằng hai chữ Tu Tâm.Tâm (citta) hay Ý (mano) hoặc Thức (vinnàna) đều là những chữ đồng nghĩa ,tùy chổ mà dùng, để chỉ cho cái gọi là Danh Pháp, sự nhận thức đối tượng (biết cảnh). Phân tích đơn giản nhất thì có tất cả 6 Thức và chúng phải nương vào Lục Vật (vatthu) mới có thể làm việc : Nhãn Thức phải nương vào Nhãn Vật (thần kinh thị giác), Nhĩ Thức phải nương vào Nhĩ Vật (thần kinh thính giác), Tỷ Thức phải nương vào Tỷ Vật (thần kinh khứu giác), Thiệt Thức phải nương vào Thiệt Vật (thần kinh vị giác), Thân Thức phải nương vào Thân Vật (thần kinh Xúc giác) và Ý Thức phải nương vào Ý Vật (tùy cảnh giới mà Ý Vật thuộc về Danh Pháp (tâm Hửu Phần) hay Sắc Pháp (như tim hay não...)
Thông qua các giác quan (Lục Căn), 6 Thức ghi nhận (biết) 6 cảnh tức Lục Trần (Sắc , Thinh , Hương ,Vị , Xúc , Pháp). Nếu 6 trần cảnh là những thứ hấp dẫn, ngọt ngào thì ngay trong Ý Thức sẽ có sự vui vẻ, thỏa mãn, thương thích. Nếu 6 trần cảnh là những thứ không vừa ý thì Ý Thức sẽ có sự khó chịu, căm ghét, bất mãn. Tất cả những cái Biết và cái Cảm này, nói theo giáo lý A Tỳ Đàm thì chúng luôn sinh diệt chớp nhoáng, Sát Na này tiếp nối Sát Na kia mà tồn tại. Nhưng trước sau không hề có một Con Người, Linh Hồn, Bản Ngã, …nào hiện hữu trong tâm thức này cả. Bởi sự tồn tại của tâm thức chúng sinh luôn là một tổng hợp của cùng lúc nhiều nhân tố gồm các cảm giác tốt xấu buồn vui (Thọ Uẩn), những kinh nghiệm tâm lý (Tưởng Uẩn) , những thuộc tính thiện ác như tham sân si hay tình thương, trí tuệ,… (Hành Uẩn). Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn, Thức Uẩn đều là Danh Pháp. Còn Sắc Pháp thì chính là tấm thân sinh lý này cùng tất cả trần cảnh thuộc vật chất mà 5 Thức đầu nhận biết được. Toàn bộ công phu tu tập của chúng ta phải y cứ trên nhận thức đúng đắn về Danh Sắc. Nhờ vậy trí tuệ mới phát triển và phiền não được đẩy lùi.
Chữ Tu Tập (bhàvanà) ở đây có nghĩa là phát huy, nuôi lớn. Hành giả phát huy, nuôi lớn cái gì ? Đó là nuôi lớn Giới học, Định học và Tuệ học nhằm để trang nghiêm, thanh lọc Tam Nghiệp bất thiện (nghĩ sai, nói sai, làm sai) và huân tu Tam Nghiệp thanh tịnh (nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng) trên căn bản trí tuệ tức Chánh Kiến từ trình độ phàm phu (thiền định , thắng trí) đến thánh nhân (đạo quả) thông qua con đường Chỉ Quán.
Thiền Chỉ là con đường phát triển Định Học bằng cách tập trung tư tưởng trên các đề mục chọn sẵn, cứu cánh cao nhất là các tầng thiền chứng từ Sơ Thiền đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cùng các khả năng thần thông và được tái sinh Phạm Thiên Giới. Thiền Quán là con đường phát triển Tuệ Học bằng cách tu tập Tứ Niệm Xứ. Cứu cánh của pháp môn này là các cấp độ thánh trí từ Sơ Quả đến A-La-Hán Quả và thiền Quán tức pháp môn Tuệ Quán phải được bắt đầu từ trí tuệ nhận thức Danh Sắc trên căn bản giáo lý (pariyatti) như là một nền tảng vững vàng cho công phu thực sự cần thiết là sự thực hành (patipatti) để nhắm tới mục đích cứu cánh là sự chứng ngộ (pativedha) và trên suốt hành trình đó, hành giả luôn cần tới ba nguồn đạo lực hỗ trợ là sự tinh tấn, chánh niệm và trí tuệ. Đề mục của thiền Quán là cảnh Danh Sắc hiện tại và như đã nói, nguồn đạo lực căn bản thiết yếu của thiền Tuệ Quán chính là Chánh Niệm cùng Tỉnh Giác (Trí Tuệ).
Như thế thì trên căn bản, thiền Chỉ khác với thiền Quán ít nhất ở hai phuơng diện :
Đối tượng tri nhận và mục đích nhắm đến. Thiền Chỉ biết cảnh Chế Định (Tục Đế) và cứu cánh cao nhất là thiền định và thắng trí (thần thông). Thiền Quán biết cảnh Danh Sắc (Chân Đế) và cứu cánh cao nhất là đạo quả Niết Bàn.
Pháp môn Tứ Niệm Xứ nói gọn lại chỉ là công phu ghi nhận chặt chẽ (chánh niệm) và hiểu biết trung thực (trí tuệ, tỉnh giác) đối với từng diễn biến sinh diệt của thân, tâm và cảm giác của chúng. Nếu ở pháp môn thiền Chỉ, hành giả tập trung tư tưởng để lắng tâm an trú vào một đề mục nào đó (luôn là cảnh Chế Định, Tục Đế) bằng năng lực của Định Căn, thì ở pháp môn thiền Quán hành giả lại dùng Chánh Niệm và Trí tuệ Tỉnh Giác để tri nhận 4 Niệm Xứ (thân, thọ, tâm, pháp) tức thân, tâm và cảm thọ của chúng. Cho dù hành giả chỉ chuyên tâm ghi nhận tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) tức thuộc Thân quán Niệm Xứ nhưng ngay lúc đó hành giả xem như cũng đã tu tập về cả thân tâm, tức đối tượng quán niệm vẫn gồm đủ Danh Sắc. Và bên cạnh Chánh Niệm, Trí tuệ lúc này cũng còn có sự góp mặt của Định Căn. Chính sự kết hợp này đã làm nên ý nghĩa Trung Đạo cho pháp môn Tuệ Quán và chính con đường Trung Đạo đó mới cùng lúc dung nhiếp trọn vẹn cả ba khía cạnh Giới, Định,Tuệ của Bát Thánh Đạo, con đường duy nhất dẫn đến cứu cánh Niết Bàn (Ekayanamagga).
Việc học hỏi kỷ lưỡng về Lục Căn, Lục Cảnh và Lục Thức rất cần thiết cho công phu tu tập Tuệ Quán ,bởi qua đó hành giả mới có thể hiểu biết căn bản thế nào là thân, tâm, danh, sắc đang diễn biến trong thời điểm hiện tại, những đối tượng tri nhận của pháp môn này. Việc ngăn trừ phiền não trước các trần cảnh là cả một công phu phức tạp, khó khăn. Hành giả phải luôn cảnh giác trước mọi Ý Muốn của mình, cho dù đó là Ý Muốn cho mình trở nên thanh tịnh hơn cũng không nên. Hành giả phải biết phân biệt rõ ràng điểm khác biệt giữa sự cảm nhận và sự suy diễn. Vị mặn do ta tưởng tượng hoàn toàn không giống như vị mặn đang nằm trên lưỡi ta. Điều đó cũng giống như một tin đồn qua dư luận không thể nào đúng tuyệt đối khi so với sự kiện xảy ra trong thực tế được. Đó chính là chổ khác biệt sâu sắc giữa sự cảm nhận và sự suy diễn, một điều hết sức quan trọng mà hành giả Tuệ Quán cần hiểu rõ. Đem phân tích chi li như vậy rồi, ta sẽ thấy ngay rằng ở pháp môn thiền Chỉ, hành giả vận dụng đúng mức sự suy diễn (Sannà), trong khi ởû pháp môn Tuệ Quán hành giả chỉ đơn giản sống cảm nhận (Chánh niệm, Tỉnh giác). Cho dù hành giả đang tu tập Thân Quán Niệm Xứ mà thân thì dỉ nhiên thô thiển hơn tâm, nhưng chính sự cảm nhận đúng mức (bằng chánh niệm và trí tuệ) đó cũng là con đường thu thúc nội tâm và ngăn trừ phiền não cực kỳ hữu hiệu.
Cái gọi là đời sống của tuyệt đại đa số chúng sinh suy cho cùng chỉ là sự kết hợp giữa thân với tâm, tức Danh và Sắc. Việc thấu đáo cặn kẻ đâu là thân, đâu là tâm phải nói là vô cùng khó khăn vì giữa thân tâm luôn có một sự tương quan, liên đới khít khao đến mức cơ hồ hai thứ chỉ là một. Khi tâm ta nổi cơn giận dữ thì hơi thở sẽ trở nên dồn dập hơn, sắc diện của ta khó xem hơn, và chắc chắn tứ đại trong ta lúc này cũng bị ít nhiều xáo trộn. Khi ngoại cảnh là cái gì êm ái , nhẹ nhàng thì nội tâm và thể trạng của ta lúc bấy giờ cũng thanh thản và an lạc theo.Nội tâm và ngoại cảnh luôn thuận ứng với nhau như vậy, chính ngoại cảnh tạo nên những biến động trong nội tâm và từ đó hình thành những phản ứng sinh lý (patikiriyà) mà từ chuyên môn trong Abhidhamma gọi là Sắc Tâm (Cittajarùpa), một trong bốn loại Sắc Pháp mà bản chất cốt lõi vẫn là Tứ Đại và các Sắc Y Đại Sinh. Nói gọn lại thì khi tâm biết cảnh hợp ý hay bất toại thì Sắc Pháp cũng theo đó mà có những thay đổi tương ứng và tốc độ sinh diệt của Sắc Pháp luôn chậm hơn Tâm Pháp 17 lần. Chính vì mối tương quan này giữa Tâm và Vật, nên trong pháp môn Tuệ Quán việc cảm nhận từng hành trạng của các tư thế sinh hoạt (oai nghi) là rất quan trọng. Cứ mỗi lần thay đổi oai nghi là mỗi lần hành giả nhận ra được cái khổ tiềm ẩn của Sắc Pháp và chính nổi khổ đó là một nhịp cầu dẫn đến những giao động tâm lý. Hành giả phải thấy cho được mối quan hệ Danh Sắc này một cách rõ ràng rằng chúng có tương quan nhưng không phải tương tức.Chính con đường quán niệm này mới đúng là hành trình hàm dưỡng các nguồn đạo lực quan trọng là Tinh Tấn, Chánh Niệm, Tỉnh Giác.
Bản chất hay thể tánh của nội tâm chúng sinh là luôn tầm cầu, hướng vọng ngoại cảnh và từ đó nẩy sinh những vọng niệm đối đãi, phân biệt (bất mãn, hay thích thú) qua sự tán trợ của ba Danh Uẩn (gọi nôm na là ba yếu tố tâm lý) Tho,ï Tưởng và Hành. Chính 3 yếu tố này đã làm hồi sinh những phiền não ẩn tàng mà thuật ngữ Phật học gọi là Tiềm Miên phiền não (Anusayakilesa). Tu tập Tuệ Quán là vận dụng Chánh Niệm, Tỉnh Giác (trí tuệ) và Tinh Tấn để chận đứng các phiền não ngay trong từng giây phút cảm nhận sự tồn tại cuả Danh Sắc (thân và tâm), thế chổ năm phiền não Triền Cái (Nìvarana) bằng Ngũ Lực (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ). Ngũ Lực song hành với nhau để làm nên đạo lộ Tam Học và chính Tam Học mới là con đường Trung Đạo mà đức Phật đã nói đến ngày xưa khi mới vừa thành đạo. Đồng thời, chính con đường Trung Đạo là con đường duy nhất đưa đến sự thanh lọc nội tâm, khiến tâm ta trở nên vô nhiễm như lá sen không thể thấm nước.

NỘI DUNG TINH YẾU CỦA PHÁP MÔN TUỆ QUÁN

Sau đây là một số vấn đề quan trọng mà bất cứ ai muốn hành đạo giải thoát cũng phải học hiểu căn bản :

1) Hiểu rõ thế nào là Danh Sắc, vì Danh Sắc là toàn bộ những gì cần được quán niệm trong suốt hành trình tu tập Tuệ Quán.

2) Hành giả phải luôn ghi nhớ rằng cảnh sở tri (đối tượng quán niệm) của pháp môn Tuệ Quán chỉ là cảnh hiện tại, những gì đang sinh và đang diệt, bất luận Danh hay Sắc.

3) Vận dụng tối đa ba nguồn đạo lực căn bản đã được đức Phật nhắc tới trong các kinh Tứ Niệm Xứ. Đó là Chánh Niệm ghi nhận tình trạng hiện tại của Danh Sắc (như biết rõ mình đang ở tư thế ngồi), Tỉnh Giác tức Trí Tuệ biết rõ bản chất của Danh Sắc (như biết rõ rằng đó là Sắc Pháp đang ngồi theo sự điều động của Danh Pháp). Trong pháp môn Tuệ Quán, đối tượng ghi nhận chính là Danh Sắc và chính Chánh Niệm cùng Trí Tuệ thực hiện việc ghi nhận ấy. Ở đây không có một Con Người, Bản Ngã hay Thực Thể nào làm chuyện đó cả. Và nguồn đạo lực thứ ba chính là sự Tinh Tấn hay Nhiệt Cần mà hành giả cần có liên tục để duy trì khả năng làm việc của Chánh Niệm và Trí Tuệ nhằm thiêu đốt phiền não. Ba nguồn đạo lực này đã được đức Phật nhắc tới trong các kinh giảng về Tứ Niệm Xứ bằng ba thuật ngữ Atàpì (Nhiệt Cần), Sampajàno (Tỉnh Giác), Satimà (Chánh Niệm).

4) Khéo suy tư (Yoniso manasikàra), nói nôm na là thấy cho đúng với thực tướng, thực tánh (Sabhàva) của Danh Sắc.Và dỉ nhiên công phu này chỉ có thể thực hiện được bằng Chánh Niệm và Trí tuệ. Chánh Niệm giúp hành giả biết mình đang ở tư thế ngồi và Trí tuệ thì giúp hành giả hiểu rõ tư thế ấy thuộc về Sắc Pháp.Khi ngồi lâu sinh tê mỏi, đau nhức thì trước khi thay đổi tư thế khác ,hành giả phải dùng chánh niệm và trí tuệ để ghi nhận rằng Sắc pháp đang có vấn đề.Khi đang thay đổi tư thế, hành giả vẫn phải tiếp tục biết rõ là Sắc Pháp đang được điều chỉnh để hoá giải cơn đau nhức.
Việc khéo suy tư như vậy sẽ giúp hành giả tránh được ảo tưởng về một thứ hạnh phúc hư ảo trong Danh Sắc mà lẽ ra ta phải hiểu rằng đó chỉ là những xê dịch, dời đổi trong đời sống thường nhật của thân tâm nhằm để chạy trốn nổi đau khổ này bằng một thứ đau khổ khác.Ngay chính hành trình Trốn Khổ Tìm Vui ấy cũng là một thứ khổ, Hành Khổ (sankhàradukkha), vì bản thân sự tồn tại của Danh Sắc đã là một cái khổ rồi. Nói một cách rốt ráo thì toàn bộ pháp môn Tuệ Quán (Tứ Niệm Xứ) chỉ gói gọn trong một vấn đề duy nhất là sự khéo suy tư. Thay vì mỗi cảm nhận trước đây của hành giả chỉ là môi trường sinh khởi của phiền não, bây giờ những đối tượng cảm nhận kia lại thành ra thứ dưỡng tố nuôi lớn trí tuệ. Trí tuệ như thật sẽ choán chổ của ngộ nhận và từ đó các phiền não sẽ dần dần suy kiệt.Các oai nghi (tư thế sinh hoạt) lúc này sẽ không che khuất được thực tính của Danh Sắc được nữa. Nói vậy có nghĩa là trước đây mổi khi cảm thấy bất an, bất ổn thì chúng ta tìm đủ mọi cách sinh hoạt để hoá giải cái thực tại khó chịu trước mắt và chính vì vậy ta không có cơ hội để thấy rõ cái khổ trong Danh Sắc.
Ở đây tôi xin lấy ngay ví dụ điển hình là hầu hết chúng ta ở đây nãy giờ vẫn xê dịch, nhúc nhích trong tư thế thiền tọa của mình mà có được mấy người đã kịp thời ghi nhận lý do vì sao mình phải làm như vậy. Xin thưa rằng chính cái khổ đã buộc chúng ta làm thế. Khi đã yên vị trong tư thế mới, chúng ta cảm thấy thoải mái và cứ vậy mà quên mất một điều quan trọng là nguyên tắc Nhân Quả Tương Quan ngay trong Danh Sắc bản thân. Thực ra chẵng có gì an lạc cả, chẵng qua cái khổ cũ được xoa dịu tạm thời bằng cái khổ mới (tư thế mới). Lát nữa đây tư thế đó lại sẽ trở nên khó chịu và ta tiếp tục tìm đến một xê dịch khác.Ranh giới giữa trí tuệ về Tam Tướng và sự ngộ nhận trong Ngã Chấp chỉ nằm trong gang tấc.Có khéo suy tư bằng trí tuệ và chánh niệm thì ta sẽ nhìn thấy Tam Tướng trong Danh Sắc qua từng dời đổi của thân tâm, nhưng khi không khéo suy tư thì những ảo tưởng Thường Lạc Ngã Tịnh sẽ lập tức khai sinh ngay trên chính tấm thân bèo bọt phù du này. Phàm phu giống như trẻ con. Chúng ta luôn ham vui, sợ khổ. Chỉ cần được chút an lạc ngắn ngủi, chúng ta dễ dàng quên hết mọi thứ. Đại khái, chúng ta luôn sống cầu an trong niềm thơ ngây và sẳn sàng thỏa hiệp vô điều kiện với thị dục huyễn ngã như những người lính già không còn sức chiến đấu. Thành trì nội tâm bị bỏ ngõ, địch quân phiền não tràn vào chia cắt chiếm cứ và khi đó nụ cười nào cũng mau phai như vệt nắng chiều. Cuộc đời từ đó được mệnh danh là biển khổ. Và tất cả chỉ khởi đi từ sự ngộ nhận, sự vắng mặt của khả năng trầm tưởng theo tinh thần Tuệ Quán.
Như đã nói, pháp môn Tuệ Quán là phép sống quán niệm trên tất cả thực tại, bất luận đó là nổi đau khổ hay niềm hạnh phúc của thân tâm, cái đang xảy ra mà mình cảm nhận được.Là một hành giả Tuệ Quán, chúng ta không mê lụy vào những cảm giác khoái lạc đã đành, mà đối với những cảm giác đau đớn khó chịu cũng phải được quán niệm đúng mức. Bởi cảm thọ nào cũng có thể dẫn đến phiền não. Nói vậy có nghĩa là khi quán niệm "Sắc Pháp đang bị bất ổn" nội tâm của ta sẽ không giống như lúc ta tâm niệm rằng "Đôi chân của mình đang bị mõi ". Chỉ cần có chút chấp thủ, nội tâm chúng ta lập tức có vấn đề. Tôi nghĩ rằng từng người ở đây đều có thể tự kiểm nghiệm câu nói nầy của tôi.
Và rồi từ những giờ thiền tọa chính thức, khả năng tỉnh thức của chúng ta phải được kéo dài, lan rộng ra với từng sinh hoạt lớn nhỏ trong đời sống thường nhật. Khi đánh răng, lau mặt, tắm rửa, giặt giũ, ăn uống, ... Hành giả luôn ý thức mình đang làm việc gì và toàn bộ các sinh hoạt chỉ có một ý nghĩa duy nhất là giải quyết một nổi khổ nào đó mà thôi.
Tôi nhắc lại rằng việc Khéo Suy Tư chính là nội dung cốt lõi của con đường hành đạo giải thoát.Một hành giả thiếu mất khả năng này thì dù có sống suốt đời trong thiền viện bên cạnh các bậc thiền sư lỗi lạc đến mấy cũng không tiến bộ được.


5) Bên cạnh khả năng Khéo Suy Tư ,hành giả còn cần đến một công phu khác nữa, đó chính là sự Chuyên Tâm (Sikkhati), tức khả năng Sống Thiền bền bỉ. Tứ Niệm Xứ lúc này không còn là một pháp môn tu tập mang tính giai đoạn hay thời khóa nữa, mà phải là toàn bộ đời sống của hành giả. Sự tỉnh thức phải được trãi rộng trên khắp mọi bình diện thực tại. Hành giả không bỏ sót một phút giây nào. Đang ngồi, hành giả biết rõ Sắc Pháp đang ngồi. Đang tỉnh thức , hành giả biết rõ nội tâm đang tỉnh thức. Khi cơn buồn ngũ kéo tới, hành giả biết rõ đó là Triền Cái và nếu chưa phải lúc đi ngủ thì hành giả nên tỉnh thức thay đổi tư thế hoặc tìm nước rữa mặt, cũng trong sự tỉnh thức biết mình.Sự chuyên tâm như vậy có một ý nghĩa rất quan trọng trong pháp môn Tuệ Quán. Nó giúp hành giả kịp thời ghi nhận mọi thứ diễn ra trong hiện tại. Và thông thường thì những hành giả sơ cơ vẫn cứ nghĩ đến tính Dài Hạn hay Khuôn Khổ trong các sinh hoạt (như tự chuẩn bị hay quy định một tư thế, công việc nào đó sẽ kéo dài trong bao lâu rồi mới bắt đầu tập trung Chánh Niệm theo dõi), mà quên rằng sự diễn tiến của Danh Sắc thực ra sinh động, và mau lẹ hơn mức họ nghĩ rất nhiều. Cách tu tập như vậy là thiếu sự Chuyên Tâm. Trong khi đó, một sự tỉnh thức đúng mức phải luôn gắn liền khít khao với mọi biến động lớn nhỏ của Danh Sắc hiện tại. Thanh thản nhìn chúng sinh diệt rồi thanh thản ghi nhận mà không hề có sự tham dự hay sắp xếp, an bài nào. Có vậy ta mới thấy ra được các khía cạnh Vô Thường, Khổ và Vô Ngã của chúng và khi sống đúng như vậy ta sẽ không có dư thời giờ cho những việc làm, lời nói thừa thải tức những diễn biến Danh Sắc không có Chánh Niệm Tỉnh Giác đi kèm.

6) Giữ tâm khách quan trung thực như một người xem hát cũng là một công phu quan trọng, cần thiết. Trong lúc quán niệm Danh Sắc, hành giả không trông mong, hi vọng, tìm kiếm sự thoải mái qua một cố gắng nào, chẵng hạn bằng sự thay đổi tư thế. Trước khi bắt đầu một sinh hoạt bình thường nhất, như rữa mặt, đánh răng ,tắm gội, ăn uống … Hành giả phải ý thức rõ ràng rằng mình đang Giải Quyết Đau Khổ và sự đau khổ ở đây có thể là sự nóng nực, đói khát hay nổi khó chịu nào đó.
Một khi ta sống thiếu tỉnh thức thì từng bức xúc, đòi hỏi của tấm thân này sẽ thành ra những cơn bực bội, thậm chí nóng giận và khi được giải quyết thoả mãn bằng những đáp ứng kịp thời thì tham dục xuất hiện và trước sau hành giả không thể tự biết mình đang ra sao. Trong khi đó, nếu sống tỉnh thức, hành giả sẽ thấy rõ từng thứ tâm trạng đi qua lòng mình : Biết rõ sự nóng nãy khó chịu là Sân Tâm, sự thỏa thê thích thú là Tham Ái, sự quên mình là Phóng Dật, và bất cứ cái nào trong những thứ đó cũng đều là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã. Nói vậy cũng có nghĩa là một hành giả Tuệ Quán nên giữ nhịp độ sinh hoạt thong thả, chậm rãi, thư thái một chút để có thể tiện bề an trú Chánh Niệm và thấy rõ sự đau khổ trong Danh Sắc cùng sự giải quyết của mình như thế nào.
Và làm gì thì hành giả cũng nên ghi nhớ điều tâm niệm này:
Ta tu tâm chứ không phải dưỡng thân!

Thiền sư Ajahn Naeb
Tỳ kheo Giác Nguyên dịch Việt 



THIỀN SƯ ACHAAN NAEB MAHÀNIRANONDA

Achaan Naeb Mahānaranonda sinh ngày 31 tháng Giêng năm 1897 (PL 2440). Cha bà là Phya Suttayanugun, lúc ấy làm tỉnh trưởng tỉnh Kanchanaburi. Mẹ bà là Khunying Plag. Năm 1931 (PL 2474), lúc ấy bà được 34 tuổi, một kinh nghiệm xảy ra làm thay đổi cuộc đời của bà. Khi đang nhìn vào một vật, bỗng nhiên bà trực nhận bản chất thực (sabhāva: thực tánh) của cái thấy. Trong khoảnh khắc hiện tại, bà nhận chân rằng cái thấy đó không phải là bà thấy - hoàn toàn vô ngã. Sự kiện này làm cho bà tin chắc rằng con đường duy nhất để loại trừ phiền não (kilesa)và đoạn tận khổ đau là sống trong sát-na hiện tại (present moment).
Vào lúc sự chứng nghiệm này xảy ra, bà chưa hề học pháp (giáo lý nhà Phật), cũng chưa có kinh nghiệm gì về Thiền Minh Sát (vipassanā). Sau đó bà mới tầm thầy học Ðạo. Bà gặp một vị sư người Miến, Pháp danh Pathunta U Vilasa, ngụ ở chùa Prog tại Bangkok - Thái Lan. Vị này đã dạy cho bà một đề tài thiền quán (vipassanā kammathaṇa), và từ đó bà bắt đầu thực hành miên mật. Sau bốn tháng thì bà thành công.
Kể từ ngày ấy bà để tâm nghiên cứu Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) và trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu về bộ môn triết học Phật Giáo này. Bà là người đầu tiên đem giáo lý Vi Diệu Pháp dạy ở Thái Lan. Trong bốn mươi năm, bà đã dạy pháp hành thiền minh sát ở nhiều trung tâm, kể cả tại Boonkanjanaram[*], ở tỉnh nhà của bà.
Thiền sư Achaan Naeb mất ngày 6 tháng Chạp năm 1983 ở tuổi 86. Thi hài bà được hỏa táng theo nghi lễ truyền thống tại chùa Mongkut - Bangkok , Thái lan.

[*] "Boonkanjanaram" là tu viện (arama) xây dựng trên thửa đất do ông "Boon" Charoenchai và bà Kanjana hiến tặng năm 1963, khoảng 5 km phía nam thành phố Pataya, tỉnh Chonburi.

Trích : Tiểu sử Thiền sư Achaan Naeb 
Sư Pháp Thông dịch