Hình ảnh thường được dùng để diễn tả sự tu tập thiền quán, trí tuệ là một người đang đi trên một sợi dây treo trên không. Khi chúng ta đi trên một sợi dây treo lơ lững giữa trời, thì điều cần phải quan tâm là sự cân bằng: luôn luôn giữ một thái độ ung dung, quân bình. Khi ta đang đi, sẽ có nhiều sự vật bay ngang qua: những hình ảnh, những âm thanh, tình cảm, tư tưởng và ý niệm khác nhau.
Nếu ta ưa thích, ta sẽ có khuynh hướng vói theo, cố nắm bắt, muốn giữ lại. Còn nếu những âm thanh, hình ảnh kia là khó chịu, bực mình, ta cũng có khuynh hướng xua đuổi, đẩy chúng đi nơi khác. Trong cả hai trường hợp, ta đều ngả mình tới, mất đi sự quân bình và có thể rơi xuống.
Cả hai phản ứng ưa thích và ghét bỏ đều có cùng một nguy hiểm như nhau. Bất cứ một việc gì, dù có huy hoàng hay ghê sợ đến đâu, nếu chúng khiến ta mất đi tâm quân bình, đều sẽ làm ta ngã. Cho nên lúc nào chúng ta cũng phải tiếp tục và tiếp tục đào luyện một tâm an nhiên, không phản ứng bằng cách nắm bắt hay xua đuổi bất cứ một đối tượng nào. Hãy tu tập một tâm vô chấp, không dính mắc vào đâu cả, vào bất cứ một chuyện gì, cứ để chúng tự nhiên đến rồi đi.
Sự vô chấp phát sinh từ sự hiểu biết thâm sâu về lý vô thường. Trên một bình diện, trí tuệ này nhận thức được sự cấp bách và tính cách tất nhiên của cái chết. Trong Chí Tôn Ca, Bhagavad Gita, có câu hỏi: “Trong mọi điều kỳ lạ trên thế giới này, sự việc nào là kỳ lạ nhất?” Và câu trả lời là: “Tất cả mọi người, mặc dù thấy những người chung quanh mình chết, vẫn không tin rằng có một ngày mình cũng sẽ chết.”
Thường vì thất niệm mà ta trở nên tham lam thu thập và chiếm hữu, muốn mình trở thành một nhân vật quan trọng. Chúng ta chấp vào các việc làm của những tâm ý nhỏ nhen, coi những tham vọng, cái tôi của mình là quan trọng nhất. Chúng ta đánh mất đi viễn tượng của một tâm lớn, về cái chết của mình.
Don Juan xem cái chết như một vị thầy; biết ý thức được cái chết không thể tránh khỏi của mình với một thái độ sáng suốt và chấp nhận, mà không hề hối tiếc, buồn lo hay sợ hãi. Quán tưởng về cái chết sẽ đem lại cho ta một sức mạnh, giúp ta biết trân quý và sống trọn vẹn trong mỗi giây phút, mỗi hành động.
Trong tâm thức của mỗi chúng ta đều có những khuôn mẫu, tạo nên bởi các hành động của mình. Thường thì đa số những hành động ấy là các thói quen xấu như giận dữ, yếm thế. Nhưng ta cũng có thể đem vào tâm một ý thức về cái chết, và dùng nó để chiếu soi mọi sinh hoạt của mình. Nếu ta biết lấy cái chết làm thầy, chúng ta sẽ sống mỗi giây phút thật trọn vẹn và chí tình, như là một nỗ lực cuối cùng trong cuộc sống.
Khi ta biết giữ cái chết trong tầm tay, ta sẽ bớt đi sự đam mê và quyến luyến những giây phút vui thú, thỏa mãn tạm thời. Và khi tâm không còn bị mê mờ vì ái dục và ảo tưởng, ta sẽ bớt đi khuynh hướng muốn chiếm hữu và sẵn lòng san sẻ tình thương và sự độ lượng của mình. Chánh niệm về cái chết cho ta một khoảng không gian sáng tỏ, giúp ta hiểu được thật sự mình là ai và ai là người sẽ chết.
Trên bình diện này, hiểu được lý vô thường có nghĩa là ý thức được những giai đoạn chuyển tiếp, ý thức được tính cách tạm thời của mọi hiện tượng từ giây phút này sang giây phút kế tiếp. Trong mỗi sát-na, tiến trình thân tâm và cả vũ trụ này đang khởi lên và mất đi, sinh và diệt tiếp nối nhau không ngừng nghỉ. Sự tu tập của ta là để đào luyện một tâm tĩnh lặng và an nhiên, không xao động trước mọi sự thay đổi.
Phương pháp tu tập này bắt nguồn từ một yêu cầu duy nhất là: ý thức được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại mà không phản ứng. Một thiền sư ở Ấn Độ có dạy rằng, chúng ta chỉ cần ngồi và ý thức được rõ ràng là mình đang ngồi thì toàn bộ giáo pháp sẽ tự nhiên hiển bày. Bạn sẽ thấy được thông suốt tự tính của vạn vật, và khi ấy giáo pháp sẽ thật sự trở thành chính bạn.
Trong giai đoạn chuyển hóa này, nhờ ở sự quân bình và vô chấp, những đức tính tốt đẹp và tự tại của tâm sẽ bắt đầu hiển lộ. Một trong những đức tính này là lòng từ (metta). Lòng từ có nghĩa là lòng thương mình bằng một sự chấp nhận, không phê phán, giữ một không gian thanh thản trong tâm; và lòng thương kẻ khác, nhưng không vì lòng quyến luyến, muốn chiếm hữu. Đây không phải là một thứ tình thương có điều kiện - thương người khác vì một đức tính hay đặc điểm nào đó, và nếu họ thay đổi, tình thương của ta cũng chấm dứt. Nó không phải là một loại tình thương “đổi chác” theo kiểu “Tôi thương bạn nếu bạn thương tôi.”
Lòng từ phát xuất do trí tuệ là một thứ tình thương vô điều kiện, một lòng đại từ - một tình thân hữu, ấm áp đối với mọi loài ở mọi nơi. Tình thương ấy không chỉ có giới hạn trong những người đang có liên hệ với mình. Nhưng không phải ta đi tìm kiếm người khác vì nhu cầu, vì mong muốn, mà do sự phát tỏa tự nhiên của một tình thương không bờ bến.
Một đức tính nữa cũng bắt đầu hiển lộ là lòng bi. Lòng bi không phải là tự thương hại hoặc thương hại người khác, mà là thấy được sự đau khổ của mình và cảm nhận được những khổ đau của người khác.
Trong tiếng Pali có chữ “kilesa” thường được dịch là “những gì bất thiện”, nó cũng có một nghĩa đặc biệt là “phiền não”. Những sự giận dữ, tham lam, các tâm bất thiện đều có thể gây ra đau khổ. Chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của chúng đối với thân tâm mình, nếu ta biết quán chiếu khi chúng khởi sinh lên. Một khi chúng ta hiểu sâu giáo pháp, ta sẽ cảm thấy thương xót chứ không phê phán hay lên án những tính xấu của mình và ta sẽ thông cảm được nỗi khổ đau của người khác khi họ rơi vào những trạng thái như vậy. Thấy được tấm màn lưới chằng chịt của khổ đau mà tất cả chúng ta đang vướng vào, ta sẽ có lòng thương xót đối với nhau hơn.
Một biểu lộ cao quí nhất trong những đức tính này là sự phô bày của một cái rỗng không - vô ngã. Khi đã không còn “tôi” thì sẽ không còn “người khác”. Ý niệm phân chia sẽ biến mất. Lúc này ta cũng sẽ kinh nghiệm được cái một, sự đồng nhất của vạn vật.
Albert Einstein có viết: “Con người là một phần nhỏ của một cái lớn mà chúng ta quen gọi là vũ trụ. Phần nhỏ ấy bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Con người kinh nghiệm bản thân, tư tưởng của mình, cảm giác của mình như là những gì riêng biệt với tất cả, đây chỉ là một loại vọng tưởng. Vọng tưởng này là một thứ ngục tù của chúng ta, giới hạn ta vào một số tham vọng cá nhân và tình thương đối với người quanh ta. Mục đích của ta là tự giải thoát mình ra khỏi ngục tù này, bằng cách mở rộng lòng từ bi ra để ôm trọn mọi loài sinh linh và toàn cõi thiên nhiên với vẻ đẹp vô cùng của nó.”
Ánh sáng của đức từ bi trong tâm ta bấy lâu nay bị tham, sân, si che phủ. Khi chúng ta phá tan những đám mây mù này bằng sự quán chiếu của trí tuệ, thì đức từ bi sẽ lại bắt đầu chiếu soi một cách tự tại như xưa.
Đức Phật có dạy một phương pháp tu tập để phát triển mạnh mẽ những đức tính này trong đời sống. Pháp tu này được gọi là Metta Bhavana hay là Từ bi quán. Thực hành phương pháp này sẽ làm cho thiền Vipassana thêm phong phú, vì tạo ra được khoảng không gian thênh thang và sự nhẹ nhàng trong tâm. Pháp tu này củng cố khả năng quan sát mà không phê phán và giúp ta tránh được khuynh hướng thường tình trên đường tu tập, tránh được sự mong muốn trở thành một nhân vật nào khác.
Trên con đường tu tập, bạn sẽ nhận thấy rằng phương tiện và mục đích chỉ là một. Muốn đạt đến mục đích an lạc, chánh niệm và tình thương, ta phải biết cách thực hiện nó trong mỗi giây phút hiện tại.
Thường thì nên chúng ta thực hành Từ bi quán khoảng chừng năm hay mười phút trước hoặc sau mỗi lần ngồi thiền, hoặc vào cả hai thời điểm. Vào trước khi ngồi thiền, Từ bi quán sẽ tạo ra một khoảng không gian cởi mở mà ta có thể áp dụng vào sự chú ý đơn thuần, và vào cuối giờ thiền thì những tư tưởng từ bi có một ảnh hưởng rất mạnh vì tâm ta lúc đó đã được an định.
Phương pháp này rất giản dị. Ngồi xuống trong một tư thế thoải mái. Trước hết, chúng ta phải giải thoát tâm mình ra khỏi mọi sự căng thẳng hay thù hận, nếu có, bằng cách xin và ban bố sự tha thứ: “Nếu tôi đã từng làm cho ai đau khổ hay thương tổn bằng tư tưởng, lời nói hay hành động, tôi xin được tha thứ. Và tôi cũng tha thứ hoàn toàn cho những ai đã từng làm tôi đau khổ hay tổn thương.” Niệm thầm câu này vài ba lần trong sự tĩnh lặng là một phương pháp hiệu quả để gột rửa tâm khỏi những cặn bã của hận thù hay tức giận.
Tiếp đó, trong khoảng một vài phút hãy hồi hướng những tư tưởng tốt lành đến cho mình bằng cách niệm thầm câu này vài ba lần: “Xin cho tôi được hạnh phúc, xin cho tôi được an lạc, xin cho tôi được thoát khỏi những khổ đau.” Tập trung vào ý nghĩa của câu này. Chúng ta không thể nào thật sự thương một người khác nếu ta không chấp nhận và thương chính mình. Những danh từ, cách dùng chữ không quan trọng. Bạn hãy chọn câu nào có thể gây một sự rung động trong bạn và biến nó thành một câu thần chú của tình thương.
Tiếp tục thực hành, bắt đầu phóng tỏa những tư tưởng và tình cảm này đến những người khác: “Cũng như tôi muốn được hạnh phúc, cầu xin cho tất cả mọi loài được hạnh phúc. Cũng như tôi muốn được an lạc, cầu xin cho mọi loài đều được an lạc. Cũng như tôi muốn được thoát khỏi khổ đau, cầu xin cho mọi loài đều được thoát khỏi khổ đau.” Niệm thầm câu này vài ba lần, rồi bắt đầu phóng tỏa tư tưởng từ bi đến những người khác. Những câu này có thể được rút gọn lại một cách nhịp nhàng và tụng đọc trong vòng năm hay mười phút: “Xin cho tất cả được hạnh phúc, an lạc và không bị khổ đau.”
Bạn cũng có thể hướng những tư tưởng này đến một số người chọn lọc nào đó, có thể là những người thân yêu hay chính những người bạn đang tức giận hoặc có hiềm thù, như là cách cởi mở ra với lòng nhân hậu. Hãy hình dung những người ấy trong đầu khi bạn niệm những lời này. Và sau cùng hãy phóng tâm từ một lần nữa đến với mọi loài ở mọi nơi.
Trong thời gian đầu phương pháp này có vẻ như hơi máy móc, nhưng khi bạn thực tập đều đặn, cố gắng tập trung vào ý nghĩa của những lời ấy, vào sự chúc lành của bạn đến kẻ khác, dần dần tâm từ bi sẽ phát triển và trở nên vững mạnh.
Hỏi: Xin ông vui lòng giải thích thêm về sự liên hệ giữa từ bi và trí tuệ?
Đáp: Sự phát triển tâm từ là một loại thiền định làm cho tâm ta tập trung vào một điểm duy nhất là tình thương. Nó hoạt động trên bình diện thuộc về khái niệm, với một khái niệm “trở thành”. Đây là một phương pháp sử dụng khái niệm vô cùng khéo léo, vì nó tạo nên một khoảng không gian, nhờ đó mà chánh niệm có thể hoạt động hiệu quả hơn. Nói tóm lại, nó sử dụng định để đem lại sự nhẹ nhàng thanh thản trong tâm, nhờ đó ta có thể đi sâu hơn vào bình diện trí tuệ.
Hỏi: Ông có thể nói thêm một chút về sự sáng tỏ được không?
Đáp: Trong những giờ ngồi thiền, có thể bạn đã có những kinh nghiệm là đôi khi tâm mình rất sắc bén và sáng suốt, ý thức được mọi chuyện đang xảy ra trong mỗi giây phút; và cũng có những lúc tâm bạn bị mù mờ, lộn xộn, không nhận diện được sự việc một cách rõ ràng, mọi vật có vẻ mơ hồ. Nó cũng giống như trong một căn phòng tối lờ mờ, nếu chúng ta vặn đèn lên thì mọi vật sẽ trở nên rõ rệt và sáng tỏ hơn. Khi tâm ta không có đủ ánh sáng, ta không thể nào thấy rõ sự vật, ta có thể thấy lờ mờ bóng dáng của chúng chứ không thấy những chi tiết. Còn khi tâm ta có đủ ánh sáng, mọi vật có thể được phân biệt rõ ràng và nhờ vậy mọi tiến trình đều trở thành sáng tỏ, dễ hiểu. Ánh sáng đó chính là ánh sáng của ý thức và chánh niệm.
Hỏi: Nhưng rồi ta có bị chấp vào sự sáng tỏ đó không?
Đáp: Bạn có thể lắm chứ. Ta gọi đó là sự hư hoại của trí tuệ. Bạn phải ý thức được tự thân của sự sáng tỏ, để khỏi bị vướng mắc hay chấp cho nó là mình. Bởi vì sự sáng tỏ cũng chỉ là một phần của tiến trình. Khi chánh niệm và định lực mới bắt đầu phát triển, người ta thường tưởng rằng lúc này mình đã được giác ngộ, đã đến đích rồi, không còn gì nữa để làm. Bởi vì lúc ấy ta cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng, an lạc và hạnh phúc lắm. Lúc ấy, vai trò của vị thầy rất quan trọng, ông chỉ khuyên: “Hãy cứ tiếp tục ngồi thiền.”
Hỏi: Sự sáng tỏ ấy ở với ta qua mọi giai đoạn hay là chúng cũng chỉ đến rồi đi như những hiện tượng khác?
Đáp: Khi ta tu tập tiến bộ, nó ở với ta lâu hơn, mặc dù không phải là mãi mãi. Nó là một tâm hành phát triển mạnh theo sự thực hành của mình. Bạn sẽ trải qua những giai đoạn tiến bộ của sự sáng tỏ, cho dù ở những giai đoạn này ta không còn cảm thấy vui thú hay hỷ lạc nữa. Trong những trạng thái khổ đau cũng vẫn có thể có sự sáng tỏ. Bạn sẽ trải qua những giai đoạn mà bạn kinh nghiệm một sự khổ đau vô bờ cũng như niềm an lạc bất tận. Trong cả hai trạng thái đều có một sự sáng tỏ. Con đường, như Don Juan đã nói, là để đạt đến một sự toàn vẹn của con người. Không phải chỉ để kinh nghiệm một khía cạnh, nhưng là để kinh nghiệm niềm hạnh phúc, nỗi khổ đau, sự trong sáng, tất cả. Thấy được một cách trọn vẹn ta là ai.
Hỏi: Có phải từ bi chỉ ảnh hưởng tới tâm của mình mà thôi?
Đáp: Sức mạnh của một tâm từ khi được trợ lực bởi sự tập trung của tâm ý thì rất mãnh liệt. Có một câu chuyện về đức Phật và người em họ của ngài là Đề-bà-đạt-đa. Ông này muốn giết Phật để trở thành giáo chủ của Tăng đoàn. Đề-bà-đạt-đa biết rằng ông không thể nào giết Phật một cách công khai được, nên ông sắp đặt để cho một con voi đã uống rượu say chạy đến chỗ đức Phật đang đi khất thực. Ông nghĩ rằng, hoặc là đức Phật sẽ sợ hãi bỏ chạy, như vậy thì uy tín của ngài sẽ bị tiêu tan; hoặc nếu ngài ở lại thì sẽ bị con voi say kia dày xéo đến chết. Khi đức Phật đang đi khất thực trên một con đường nhỏ hẹp, Đề-bà-đạt-đa thả con voi say ra. Nhưng đức Phật không hề hoảng sợ hay bỏ chạy. Ngài vẫn đứng điềm nhiên với một tâm định kiên cố, rồi ngài phóng tỏa những tư tưởng từ bi đến con voi say ấy. Trong kinh kể lại rằng tâm từ của đức Phật làm cho con voi trở nên an tĩnh, và nó từ từ quỳ xuống trước chân ngài.[3]
Hỏi: Tâm từ bi biểu lộ ra bằng cách nào?
Đáp: Lòng từ bi không nhất thiết phải theo một luật hành động nhất định nào. Nó chỉ có nghĩa là cố hết sức mình để hành động bằng tình thương, bằng tâm từ qua những phương thức thích hợp với hoàn cảnh. Điều quan trọng là không nên tìm kiếm một công thức hành động nhất định để đem áp dụng cho mọi hoàn cảnh, vì bạn phải thành thực với chính mình, với những gì mình đang cảm nghĩ. Trong giai đoạn đầu thì cách thực hành Từ bi quán rất máy móc. Tâm từ là một tâm hành, nó không phải là một cái gì huyền bí mà ta nghĩ rằng mình có hay không có. Trên phương diện này, nó cũng giống như là chánh niệm, tâm định, trí tuệ hay là tham, sân. Nếu ta biết trau dồi, nó sẽ phát triển, còn nếu bỏ quên, nó sẽ héo hon đi. Lúc đầu thì nó không có vẻ tự nhiên, nó đòi hỏi một sự cố gắng, nhưng khi luyện tập tiến bộ ta sẽ trở nên thuần thục và tâm từ sẽ tự nó phát khởi.
TRÍCH: BA MƯƠI NGÀY THIỀN QUÁN
Joseph Goldstein
Nguyễn Duy Nhiên Việt dịch
Hiển thị các bài đăng có nhãn Joseph Goldstein. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Joseph Goldstein. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016
Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016
Năng lực của chánh niệm
Ở đây, Bây giờ, Tỉnh giác. Đó là căn bản của con đường thiền định và chìa khóa để chuyển hóa cuộc sống của mỗi người. Trong cuốn sách Một Trái Tim Bình An
Thiền sư Joseph Goldstein đã mô tả một cách đơn giản nhưng sâu sắc như thế về sự tỉnh giác tự nhiên của tâm trí chúng ta…
Chánh niệm là chìa khóa của giây phút hiện tại. Nếu không có nó chúng ta không thể nào nhìn thấy thế giới một cách rõ ràng, đơn giản là chúng ta sẽ lạc bước theo sự nghĩ ngợi quanh quẩn của tâm trí.
Tulku Urgen, vị thầy môn phái DzongDzongchen Tây Tạng vĩ đại của thế kỷ vừa quan đã nói “ Có một thứ chúng ta luôn luôn cần đến, đó là một người canh cửa có tên là Chánh niệm – đó là người bảo vệ luôn trông chừng cho chúng ta khỏi bị lôi cuốn vào thất niệm”.
Chánh niệm là phẩm chất là năng lực của tâm trí, nó luôn ý thức một cách sâu sắc những gì đang xảy ra- mà không phê phán hay can thiệp. như một tấm gương soi, nó chỉ phản ành những gì diễn ra trước mặt. Nó âm thầm giúp đỡ chúng ta làm cho chúng ta có mặt với từng việc làm nhỏ nhặt như đánh răng hay uống trà.
Chánh niệm cũng giúp chúng ta nối kết với những người xung quanh, nhờ đó chúng ta sẽ không vội vàng đi ngang qua họ trong sự tất bật của cuộc đời. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một thí dụ về người thể hiện một cách sinh động phẩm chất chú ý lân mẫn này. Một lần nọ, sau hội nghị Arizona, Ngài đã yêu cầu mọi nhân viên trong khách sạn đi vào trong khách sảnh để chào từng người trước khi từ giả.
Chánh niệm là cơ sở cho hành động khéo léo. Khi chúng ta nhìn rõ những gì đang diễn ra ở giây phút hiện tại, thì tuệ giác mới có thể hướng dẫn chúng ta chọn lựa và hành động, chứ không làm teo thói quen đã bị điều kiện hóa. Và hơn thế nữa. Đức Phật cũng đã từng nói rằng, chánh niệm là con đường thẳng dẫn đến giác ngộ: “đây là con đường thẳng đến tịnh hóa thân tâm, để vượt thẳng u sầu và khổ não, để chấm dứt khổ đau, để đạt đạo, và thực chứng Niết bàn”.
Tôi bắt đầu thực tập thiền khi đang ở trong đoàn Hòa Bình ở Thái Lan. Vào lúc ấy, tôi rất hào hứng tham gia vào những cuộc thảo luận triết lý. Lần đầu tiên đi thăm các tu sĩ Phật giáo, tôi mang theo cuốn Đạo đức của Spinoza, dự định sẽ lôi kéo họ vào cuộc tranh luận. Thế là tôi gia nhập vào một nhóm pháp đàm dành cho người phương Tây. Tôi cứ khăng khăng với đề tài của mình nên nhiều người khác đã bỏ nhóm đi ra. Cuối cùng, có lẽ do thất vọng quá nên một tu sĩ đề nghị. “Hay là bạn thử tập thiền đi!”.
Lúc bấy giờ tôi chẳng biết chút gì về thiền cả, và tôi cũng háo hức muốn biết cách thức luyện tập phương Đông xa lạ này nó ra làm sao. Tôi thu dọn đồ đạc và ngồi trên một chiếc bồ đoàn – và để đồng hồ báo thức sau 5 phút. Thật lạ lùng, là chỉ trong vòng vài phút, tôi cảm nhận có điều gì quan trong đang diễn ra. Lần đầu tiên tôi nhận thức được con đường mới mẻ đó là quay vào trong để khám phá ra bản chất của tâm trí mình.
Nhận thức này là một bước ngoặt trong cuộc sống tâm linh của mọi người. Chúng tôi đã đến được trong điểm nào đó trong cuộc đời như thể bắt gặp một cây cầu, và chúng tôi tự nhủ thầm,”Ồ, điều này mình làm được”. Điều này đối với tôi quá mới mẻ và hết sức thú vị, cho nên tôi mời bạn bè đến xem tôi tập thiền. Dĩ nhiên những người đến không thường xuyên quay trở lại.
Thiền sư Joseph Goldstein đã mô tả một cách đơn giản nhưng sâu sắc như thế về sự tỉnh giác tự nhiên của tâm trí chúng ta…
Chánh niệm là chìa khóa của giây phút hiện tại. Nếu không có nó chúng ta không thể nào nhìn thấy thế giới một cách rõ ràng, đơn giản là chúng ta sẽ lạc bước theo sự nghĩ ngợi quanh quẩn của tâm trí.
Tulku Urgen, vị thầy môn phái DzongDzongchen Tây Tạng vĩ đại của thế kỷ vừa quan đã nói “ Có một thứ chúng ta luôn luôn cần đến, đó là một người canh cửa có tên là Chánh niệm – đó là người bảo vệ luôn trông chừng cho chúng ta khỏi bị lôi cuốn vào thất niệm”.
Chánh niệm là phẩm chất là năng lực của tâm trí, nó luôn ý thức một cách sâu sắc những gì đang xảy ra- mà không phê phán hay can thiệp. như một tấm gương soi, nó chỉ phản ành những gì diễn ra trước mặt. Nó âm thầm giúp đỡ chúng ta làm cho chúng ta có mặt với từng việc làm nhỏ nhặt như đánh răng hay uống trà.
Chánh niệm cũng giúp chúng ta nối kết với những người xung quanh, nhờ đó chúng ta sẽ không vội vàng đi ngang qua họ trong sự tất bật của cuộc đời. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một thí dụ về người thể hiện một cách sinh động phẩm chất chú ý lân mẫn này. Một lần nọ, sau hội nghị Arizona, Ngài đã yêu cầu mọi nhân viên trong khách sạn đi vào trong khách sảnh để chào từng người trước khi từ giả.
Chánh niệm là cơ sở cho hành động khéo léo. Khi chúng ta nhìn rõ những gì đang diễn ra ở giây phút hiện tại, thì tuệ giác mới có thể hướng dẫn chúng ta chọn lựa và hành động, chứ không làm teo thói quen đã bị điều kiện hóa. Và hơn thế nữa. Đức Phật cũng đã từng nói rằng, chánh niệm là con đường thẳng dẫn đến giác ngộ: “đây là con đường thẳng đến tịnh hóa thân tâm, để vượt thẳng u sầu và khổ não, để chấm dứt khổ đau, để đạt đạo, và thực chứng Niết bàn”.
Tôi bắt đầu thực tập thiền khi đang ở trong đoàn Hòa Bình ở Thái Lan. Vào lúc ấy, tôi rất hào hứng tham gia vào những cuộc thảo luận triết lý. Lần đầu tiên đi thăm các tu sĩ Phật giáo, tôi mang theo cuốn Đạo đức của Spinoza, dự định sẽ lôi kéo họ vào cuộc tranh luận. Thế là tôi gia nhập vào một nhóm pháp đàm dành cho người phương Tây. Tôi cứ khăng khăng với đề tài của mình nên nhiều người khác đã bỏ nhóm đi ra. Cuối cùng, có lẽ do thất vọng quá nên một tu sĩ đề nghị. “Hay là bạn thử tập thiền đi!”.
Lúc bấy giờ tôi chẳng biết chút gì về thiền cả, và tôi cũng háo hức muốn biết cách thức luyện tập phương Đông xa lạ này nó ra làm sao. Tôi thu dọn đồ đạc và ngồi trên một chiếc bồ đoàn – và để đồng hồ báo thức sau 5 phút. Thật lạ lùng, là chỉ trong vòng vài phút, tôi cảm nhận có điều gì quan trong đang diễn ra. Lần đầu tiên tôi nhận thức được con đường mới mẻ đó là quay vào trong để khám phá ra bản chất của tâm trí mình.
Nhận thức này là một bước ngoặt trong cuộc sống tâm linh của mọi người. Chúng tôi đã đến được trong điểm nào đó trong cuộc đời như thể bắt gặp một cây cầu, và chúng tôi tự nhủ thầm,”Ồ, điều này mình làm được”. Điều này đối với tôi quá mới mẻ và hết sức thú vị, cho nên tôi mời bạn bè đến xem tôi tập thiền. Dĩ nhiên những người đến không thường xuyên quay trở lại.
THỰC TẬP CHÁNH NIỆM
Chúng tôi có thể thực tập chánh niệm bằng cách đơn giản là theo dõi hơi thở. Thở vào, chúng ta biết rằng đang thở vào, thở ra, chúng ta biết là đang thở ra. Tuy đơn giản là thế nhưng không dễ đâu. Chỉ sau vài hơi thở là chúng ta đã nhày lên trên những chuyến tàu liên tưởng, trí óc ta ngược xuôi, cùng với bao nhiêu là kế hoạch, hoài niệm, phê phán, và tưởng tượng. Đôi khi chúng ta như đang ở trong một rạp chiếu phim khi người ta thay phim quá nhanh, ấy thế nhưng trong phòng chiếu cả riêng mình thì chúng ta cư xử ra sao?
Thói quen lang thang của đầu óc ta rất mạnh, thậm chí cả khi những mơ tưởng này không mấy dễ chịu, và có lẽ không thực tế chút nào. Như Mark Twain đã từng nói, “Những điều tồi tệ nhất trong cuộc đời chưa bao giờ xảy ra với tôi”. Chúng ta cần rèn luyện tâm trí mình, quay lại với hơi thở, và đi lại từ đầu.
Khi tâm trí ta từ từ lắng dịu, chúng ta bắt đầu thể nghiệm một sự yên tĩnh, thư thái. Từ trạng thái yên tĩnh sâu xa, chúng ta mới cảm nhận về thân của mình rõ hơn, và cởi mở hơn với những cảm giác phát sinh. Thoạt đầu ta thường chống lại các cảm giác khó chịu, nhưng thường chúng không tồn tại lâu. Chúng xuất hiện một lúc và ta ghi nhận đó là các cảm thọ khó chịu – rồi chúng biến đi để nhường cho một cảm thọ khác.và thậm chí cho dù chúng có trở đi trở lại, chúng ta cũng đã bắt đầu cảm nhận được tính chất vô thường và trống rỗng của chúng và càng lúc càng ít lo sợ hơn khi thấy chúng.
Chúng ta cần thực tập thêm để ngày càng ý thức về các ý nghĩ và xúc cảm của mình, những hoạt động tinh thần chi phối đầu óc, thân thể và cả cuộc sống của mình. Bạn có bao giờ ngừng lại để tự hỏi ý nghĩ là gì chưa? – không phải là xem xét nội dung của ý nghĩa mà là bản chất của chúng? Ít người thực sự suy xét “Ý nghĩ là gì? Hiện tượng này là gì mà xuất hiện lắm lần trong ngày đến thế, và chúng ta lại ít chú ý đến thế?”.
Việc không ý thức được ý nghĩ là gì lẫn bản chất của chúng ra sao đã cho phép ý nghĩ chi phối cuộc sống của chúng ta. Chúng bảo ta làm việc này việc nọ, các ý nghĩ điều khiển chúng ta như thể chúng ta là đầy tớ của chúng.
Có lần khi tôi đang giảng dạy ở Bouver, Colorado, tôi đang ngồi một cách thoải mái trong phòng. Các ý tưởng xuất hiện rồi biến đi, chợt một ý nảy sinh trong đầu óc tôi và phán rằng: “Bây giờ mà ăn pizza là thú vị lắm đây”. Thật ra tôi không đói, nhưng ý nghĩ này nhấc tôi ra khỏi ghế, đẩy tôi ra khỏi cửa, bước xuống cầu thang, nhảy vào xe, lái đến chỗ bán pizza, trở lại vào xe, lên cầu thang, trở về phòng và cuối cùng ngồi xuống ăn. Cái gì thúc đẩy một hoạt động như thế? Chỉ bắt đầu là một ý nghĩ.
Dĩ nhiên cũng chẳng có gì sai trái trong việc chạy đi mua bánh pizza, thế nhưng điều đáng để ý là cuộc sống của chúng ta bị các ý nghĩ điều khiền đến mức độ nào. Vì mình không để ý nên nó có quyền lực rất lớn. Nhưng khi chúng ta chú ý, chúng ta quan sát chúng từ lúc chúng phát sinh rồi tan biến, chúng ta bắt đầu thấy rõ bản chất trống rỗng của chúng. Chúng nổi lên như những bong bóng năng lượng trong đầu óc hơn là sự hiển lộ cụ thể của một bản ngã.
Không giống như lão phù thủy đầy quyến phép núp sau bức màn trong truyện Lão Phù thủy xứ Oz, sức mạnh mà các ý nghĩ đó do chúng ta trao cho, tất cả ý nghĩ đến rồi đi. Chúng ta có thể tập chánh niệm về chúng mà không bị lôi cuốn theo sự lang thang của tâm trí. Với chánh niệm chúng ta có thể thực hiện được sự chọn lựa khôn ngoan: “Ừ, mình sẽ hành động theo ý nghĩ này: không, buông bỏ ý nghĩ đó đi”.
XỬ LÝ CẢM XÚC
Tương tự như thế, chúng ta có thể rèn luyện mình chánh niệm về các cảm xúc, những loại năng lượng cực mạnh, cuốn phăng cả thân tâm chúng ta như những cơn sóng thần. Chỉ trong một thoáng giây chúng ta có thể trải qua rất nhiều cảm xúc giận dữ, phấn khích, buồn bã, đau khổ, yêu thương, vui vẻ, thương xót, ghen ghét, sung sướng , thích thú, chán nãn. Có những cảm xúc đẹp đẽ và những cảm xúc khó chịu – trong những hầu hết những giây phút ấy, chúng ta bị chìm đắm vào trong chúng ta những câu chuyện làm cho chúng phát sinh.
Chúng ta rất dễ bị lạc trong những vở bi hài kịch do chính mình tạo tác. Sẽ rất tốt nếu chúng ta bước lùi một bước và nhìn suy xét về năng lượng của chính các cảm xúc ấy. Buốn là gì? Giận là gì? Nhìn sâu không phài là nhìn các câu chuyện của những cảm xúc ấy mà là nhìn xem những cảm xúc biểu hiện trong đầu óc và thân thể của chúng ta như thế nò. Nghĩa là ta phải quan tâm tìm hiểu chính bản chất của xúc cảm.
Thiền sư người Mỹ Ajahn Sumedho đã chỉ cho chúng ta cách tìm hiểu như thế này: vào giây phút nổi giận, hay sung sướng, ta chỉ ghi nhận: “Giận dữ là như thế này đây”, “Sung sướng là như thế này đây”. Cách tiếp cận cuộc sống tình cảm như thế khác với kiểu chìm đắm trong sóng cảm xúc hay bị cuốn theo tâm trạng không ngừng đổi thay. Để làm được việc này cần có chánh niệm, tỉnh giác, tập trung. Chúng ta cũng coi chừng không nên hiểu lầm cần phải đè nén cảm xúc hay gạt chúng qua một bên. Trong khi ngồi thiền, chúng ta hoàn toàn cởi mở đối với cảm xúc. Khi quán chiếu, chúng ta nên tự hỏi “Mình liên hệ đến cảm xúc này như thê nào? Mình hoàn toàn đồng nhất với nó hay đầu óc mình đủ rộng để dung chứa các cảm giác giận dữ, đau khổ, vui tươi, thương yêu mà không bị ngập tràn?”.
THỰC TẬP BUÔNG BỎ
Khi bạn thiền tập hãy đem sự chú ý trở lại với những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại: hơi thở, cảm thọ trong thân thể, một ý nghĩ, một cảm xúc, hay thậm chí là bản thân sự ý thức. Khi chúng ta ngày càng chánh niệm hơn và chấp nhận những gì đang diễn ra, chúng ta sẽ thấy rằng – trong khi thiền tập lẫn trong cuộc sống thường nhật – chúng ta ngày càng bị điều khiển bởi các lực xua đuổi và dính mắc. hai sức mạnh phần lớn chi phối cuộc đời ta. Trong quá trình thiền tập, chúng ta sẵn sàng quan sát bất kỳ cái gì có mặt, sống chung với nó nhưng không bị lôi cuốn theo. Chúng ta tập buông bỏ.
Trong một số nước châu Á có một loại bẫy để bắt khỉ rất hay. Người ta đục dưới đáy một trái dừa một khe nhỏ vừa đủ rộng cho con khỉ đút tay vào, nhưng nếu nó vẫn nắm tay lại mà rút ra thì không được. Rồi họ bỏ đồ ngọt vào trong trái dừa, cột trái dừa vào một thân cây để chờ con khỉ đến. Khi con khỉ chuồi tay vào trái dừa để lấy đồ ăn thì nó mắc kẹt. Vì sao con khỉ lại mắc bẫy? Đó là do sức mạnh của dục vọng và dính mắc. Điều mà con khỉ cần làm là buông bỏ đồ ngọt, mở lòng bàn tay, rút ra và thế là được tự do- nhưng rât hiếm khi con khỉ làm được vậy, Tương tự như thế. Thiền sư Nhật Bản Kosho Uchiyama, từ thế kỷ XII đã nói về việc “mở lòng bàn tay của tâm trí”.
Một phẩm tính khác cần phát triền trong thiền tập là óc hài hước về tâm trí, cuộc sống và tình trạng bế tắc của con người. Óc hài hước rất cần thiết trên con đường tâm linh. Nếu bây giờ bạn chưa có óc hài hước thì cứ thiền tập một thời gian nó sẽ đến, vì khó mà quán sát tâm trí một cách liên tục và có hệ thống nếu như không tập mĩm cười. một hôm có người hỏi Sasaki Roshi là thầy có bao giờ đi xem phim không, thầy trả lời, “Thầy cho người ta phỏng vấn”.
Cách đây vài năm, tôi tham dự một khóa tu ờ Miến Điện với thiền sư Sayadaw U Pandita. Ngài là một vị thầy nghiêm khắc, và trong khóa tu mọi người đều giữ im lặng, đi đứng chậm rãi, và cố giữ đầu óc yên tĩnh. Đó là một thời gian luyện tập khá căng thằng. Vào bữa cơm, chúng tôi đi vào trai đường, xếp hàng yên lặng lấy thức ăn và chánh niệm từng động tác.
Một hôm, người đứng trước mặt tôi trong hàng đến cạnh bàn và mở nắp một nồi thức ăn. Khi anh ta đặt nắp xuống bàn thì làm rơi đảnh xoảng xuống sàn nhà. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi lúc ây là: “Không phải tôi”. Ý nghĩ ấy xuất hiện từ đâu nhỉ? Với chánh niệm, người ta có thể mĩm cười trước vị khách không mời mà đến trong tâm.
Qua thiền tập, chúng ta bắt đầu nhìn thấy nhiều hoạt động của tâm trí, từ những ý tưởng kỳ quái cho đến những ý nghĩ và cảm thọ trong sáng. Chúng ta tập có mặt mọi thứ đi qua trong tâm. Khi mình có thái độ chấp nhận thì trong lòng có một cảm giác nhẹ nhàng. Khi có thái độ nhẹ nhàng và chấp nhận chính mình thì ta cũng sẽ nhẹ nhàng và chấp nhận người khác. Chúng ta không còn vội vàng phê phán tâm trí người khác một khi đã nhìn thấy rõ tâm trí của mình. Nhà thơ WH. Auden đã từng nói điều tương tự một cách dí dõm: “Hãy thương mến người láng giềng gian giảo bằng trái tim gian dối của mình”. Sự bao dung không có nghĩa chúng ta xem mọi chuyện như nhau. Chánh niệm giúp chúng ta chọn lựa một cách sáng suốt những gì nên vun trồng và phát triển, và những gì cần từ bỏ.
Cũng như các thấu kính hội tụ của một chiếc kính hiển vi giúp ta thấy được sự vật vẫn thường ẩn khuất. Một đầu óc tập trung mở ra cho chúng ta những tầng lớp kinh nghiệm sâu kín và các động thái vi tế của ý nghĩ và cảm thọ. Nếu không nhờ năng lực tập trung này chúng ta chỉ thấy được bề mặt của sự vật. Nếu muốn có sự hiểu biết sâu sắc, chúng ta cần thực tập chánh niệm, và tăng cường khả năng tập trung tư tưởng. Một trong những lơi dạy quý báu của Đức Phật là khẳng định rằng, chúng ta ai ai cũng làm được việc này.
THỰC TẬP TRONG ĐƠI SỐNG HÀNG NGÀY
Trong thế giới bận rộn, phức tạp và nhiễu nhương này, chúng ta cần đi những bước thực tiễn như thế nào để rèn luyện đầu óc mình?
Bước đầu tiên lả thực tiễn một sự thực tập thiền đều đặn hàng ngày. Điều này đòi hỏi kỷ luật. Việc sắp xếp thời gian mỗi ngày để thực tập không phải luôn luôn dễ dàng vì nhiều việc khác thúc bách chúng ta. Nhưng sự rèn luyện nào cũng vậy, muốn có kết quả thì phải tập luyện đều đặn.Tất nhiên không phải lần nào ngồi chúng ta cũng đều tập trung tâm trí được. Đôi khi chúng ta cảm thấy chán ngán và không yên. Những lúc thăng trầm là chuyện bình thường. Nhưng điều quan trọng là chúng ta kiên trì và thực hành đều đặn, chứ không phải là chúng ta cảm thấy như thế nào mỗi thời thiền tập. Pablo Casals, nghệ sĩ hồ cầm nổi tiếng thế giới,nay đã 93 tuổi vẫn thực tập 3 tiếng mỗi ngày. Khi được hỏi tại sao ở tuồi này ông vẫn còn thực tập, ông đáp: “tôi mới bắt đầu thấy khá hơn một chút”.
Việc thực tập chỉ được thực hiện với sự nỗ lực của bạn. Không ai có thể làm thay cho mình. Có nhiều phương pháp và truyền thống, và bạn có thể chon lựa cách nào thích hợp cho mình. Nhưng chỉ với sự đều đặn thì sự chuyển hóa mới diễn ra; nếu không làm thì chúng ta sẽ cứ mãi hành động theo nếp suy nghĩ bị điều kiện hóa.
Bước kế tiếp là giữ cho mình chánh niệm và tỉnh giác về thân thể mình suốt ngày. Hàng ngày khi đi vào công việc, chúng ta thường bị lạc vào những ý nghĩ về quá khứ hay tương lai, và đánh mất ý thức về thân thể của chúng ta.
Một sự nhắc nhở đơn giản về việc đi lạc vào trong dòng tư tưởng là cảm giác vội vã. Vội vã là cảm giác nào tới phá trước. Đầu óc chúng ta luôn phóng tới trước, hướng về những gì chúng ta muốn làm chứ không nằm yên trong thân thể để ý thức mình đang ở đâu.
Hãy học cách nhận diện cảm giác vội vã này- nó không liên quan gì đến chúng ta đi chậm hay nhanh. Chúng ta có thể có cảm giác vội vã khi đang đi chậm, và khi đang đi nhanh chúng ta vẫn có thể để tâm đến thân thể của mình. Đi như thế nào thì chúng ta vẫn có thể không có mặt trong thân. Nếu làm được thì bạn hãy để ý xem tư tưởng hay tình cảm nào đang thu hút sự chú ý của mình. Rồi, hãy ngừng lại và chú ý vào thân thể của mình, hãy cảm nhận bàn chân đang ở trên mặt đất, và cảm nhận được bước đi kế tiếp của mình.
Đức Phật đã nói một câu rất dứt khoát về sự thực tập này “Chánh niệm về thân thể dẫn đến Niết Bàn”. Đây không phải la một sự thực tập hời hợt. Chánh niệm về thân thể giữ cho chúng ta có mặt – và vì thế biết được những gì đang xảy ra, khó nhớ để thực tập, nhưng thực tập thi không khó. Tất cả nằm trong sự thực tập: đo là họa thiền đều đặn và luôn chánh niệm về thân thể.
Để phát triển chánh niệm và định lực sâu,có mặt với thân thể của mình, và có một mối liên hệ khéo léo với các ý nghĩ và tình cảm của mình, chúng ta không những cần thiền tọa mỗi ngày mà còn phải dành thời gian tham dự khóa tu nhập thất. Thỉnh thoảng chúng ta nên dẹp bớt công việc, để dành thời gian cho việc thực tập miên mật hơn.Thời gian nhập thất không phải là một sự xa xỉ. Nếu chúng ta thành thật và quyết tâm mạnh mẽ để tỉnh thức, để có tự do – để hướng đến cái gì mà mình xem là có giá trị cao nhất – thì thực hiện một khóa tu nhập thất là phần thiết yếu.
Chúng ta nên tạo một nhịp điệu cho cuộc sống của mình, thiết lập một sự cân bằng giữa thời gian dành cho hoạt động bên ngoài liên hệ với thế giới, và thời gian hướng vào bên trong. Nhà thơ vĩ đại Rumi của Sufi đã từng lưu ý: “Chỉ ở trong phòng một mình một lúc thôi cũng có giá trị hơn bất cứ điều gì mà người khác cho bạn”.
Thoạt đầu thời gian quay vào trong có thể là một ngày, một dịp cuối tuần, hay một tuần. Ở trung tâm thiền của chúng tôi, các bạn có thể đến ở lại nhập thất mỗi năm 3 tháng, và ở Forest Refuge mới, các bạn có thể ở lại suốt năm.
Chúng ta có thể làm bất cứ cái gì mình thấy thích hợp và có thể làm để tìm được nhịp điệu cân bằng giữa đời sống trong thế giới bên ngoài và sự yên tĩnh trong nội tâm. Bằng cách này chúng ta mới phát triển được sự tập trung và chánh niệm ở các tầng lớp ngày càng sâu sắc hơn, mà nó sẽ làm cho chúng ta đời sống trong đời với lòng từ bi và lân mẫn hơn.
Tạp chí Shambala Sun tháng 11, 2007
Nguồn: Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 47 |
Joseph Goldstein - Trần Ngọc Bảo dịch
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

