Hiển thị các bài đăng có nhãn PHẬT PHÁP HỎI ĐÁP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHẬT PHÁP HỎI ĐÁP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Chỉ có trí tuệ mới hiểu

Một khi đã hiểu được vấn đề hay một tình huống xung đột,tâm sẽ được giải thoát khỏi đau khổ (do xung đột đó gây ra cho mình). Chỉ khi đó nó mới không còn phản ứng lại mỗi khi gặp những tình huống như vậy nữa. Để có được tầm mức trí tuệ này tất nhiên không phải là chuyện dễ. Thực hành theo cách này có thể sẽ tương đối khó, nhất là trong giai đoạn đầu. Chúng ta cần rất nhiều kiên nhẫn và duy trì thực hành đều đặn.


Thiền sinh: Chúng ta vẫn thường nói đến sự xung đột giữa thói quen và vô thức luôn luôn thúc đẩy mình phải hành động theo một kiểu nhất định nào đó, và tâm thiền luôn cố gắng huân tập những thói quen mới, cố gắng thực hành thiền Vipassanā. Có một cách nào khác hay một công cụ nào khác ngoài Định lực (sự tập trung) để giải quyết những xung đột đó mà không cản trở sự tiến bộ trong thiền hay không?

Thiền sư: Có hai cách để thay đổi thói quen, một là dùng Định, hai là dùng Tuệ. Rắc rối với cách dùng Định là nó chỉ tạm thời trấn áp xung đột mà thôi. Nếu bạn rất giỏi về Định, bạn có thể làm được điều đó cả trong một thời gian dài. Nhưng cách này lại chẳng giải quyết được những căn nguyên, gốc rễ của xung đột. Vì thế xung đột đó sẽ lại nổi lên với sức mạnh nguyên xi như cũ nếu bạn không thực hành thiền định nữa. Chỉ khi chúng ta nhìn vào sự việc một cách phân tích thì mới học hiểu ra được những điều kiện và nguyên nhân đằng sau của nó và mới phát triển được trí tuệ cần thiết nhằm giải phóng tâm mình khỏi những xung đột đó. Định chỉ cố gắng khu trú, cách ly xung đột, còn tuệ mới thấu hiểu nó.

Thiền sinh: Mỗi khi con bị bất cứ một cảm giác đau nào, bất cứ là đau ở thân hay đau đớn về tình cảm, thì ngay lập tức trong con luôn có sự phản ứng lại tức thời. Nó xảy ra rất nhanh và rất là tự động, những phản ứng tâm lý đó nhanh và mạnh đến mức con chẳng thể áp dụng được cách tư duy của thiền Vipassanā vào đó nữa. Con thấy hình như thực hành thiền chỉ (Samatha) có lẽ lại là một cách hay để đối phó với những tình huống như vậy, nó giúp mình tạm thời bình tĩnh trở lại.

Thiền sư: Thiền Vipassanā không phải chỉ mỗi ngồi và quán sát. Trong những tình huống như thế, bạn cần tự nhắc mình có thái độ đúng đắn đối với những gì đang xảy ra. Bạn phải thừa nhận những gì đang diễn ra và chấp nhận nó- như nó đang là. Rồi sau đó xem xét những gì đang diễn ra và cố gắng học hỏi từ nó, cố gắng hiểu bản chất của thể loại tâm đó, cố gắng thấu hiểu hoạt động của nó như thế nào. Nhưng điều này cần phải có thời gian, cần có rất nhiều lần quán sát như thế nữa thì sự hiểu biết mới thực sự này sinh được. Một khi đã hiểu được vấn đề hay một tình huống xung đột,tâm sẽ được giải thoát khỏi đau khổ (do xung đột đó gây ra cho mình). Chỉ khi đó nó mới không còn phản ứng lại mỗi khi gặp những tình huống như vậy nữa. Để có được tầm mức trí tuệ này tất nhiên không phải là chuyện dễ. Thực hành theo cách này có thể sẽ tương đối khó, nhất là trong giai đoạn đầu. Chúng ta cần rất nhiều kiên nhẫn và duy trì thực hành đều đặn.

Thiền sinh: Bạch thầy, con có một kinh nghiệm rất hay ngày hôm qua và con không biết đó có phải là tuệ giác hay không. Bỗng nhiên con thấy ra con đang chấp giữ một suy nghĩ là khóa thiền của mình ở đây đã hoàn toàn thất bại, chẳng đạt được tiến bộ nào cả. Điều đó đã giáng cho con một đòn rất đau, con rất đau đớn khi nhận ra rằng mình đã ôm giữ cái tà kiến đó bao lâu nay. Nhưng trong những giờ thiền sau đó, tâm con trở nên rộng mở hơn và nhạy cảm hơn. Con có thể cảm nhận được làn gió mát trên làn da mình và đi lại chậm rãi hơn, bình thường thì con đi nhanh lắm. Khi tiếp xúc với người khác, con có thể cảm nhận được những phản ứng rất vi tế trong tâm mình và thấy được những thứ ở trong tâm mà bình thường trước kia con không thấy được.Mọi thứ trở nên rõ ràng hơn trước nhiều. Thực ra con cũng không biết chắc được đó có phải là một tuệ giác không.

Thiền sư: Đúng,đó chính là tuệ giác. Khi một tuệ giác khởi sanh, nó đem lại cho tâm nhiều sức mạnh; nó làm tăng cường những phẩm chất tốt đẹp trong tâm. Cung cách của tâm mình thay đổi một cách mạnh mẽ và nhanh chóng ghê gớm, thay cách một cách đáng kinh ngạc đúng không? Chỉ có những hiểu biết thực sự mới có những tác động lớn lao như vậy đến tâm mình. Khi chứng nghiệm được một điều gì đó một cách rõ ràng như vậy thì đó chính là tuệ giác đấy. Người ta không thể chắc chắn lắm liệu một kinh nghiệm nào đó có phải là kết quả của một tuệ giác hay không – như trong trường hợp của bạn chẳng hạn – nhưng không thể nghi ngờ gì về sự thực những điều bạn đã nhận ra, đúng không?

Thiền sinh: Dạ, vâng. Đúng như thế ạ.

Thiền sư: Đó chỉ mới là một tuệ giác nhỏ mà thôi. Hãy thử nghĩ xem một tuệ minh sát, một tuệ giác xuyên thấu đến bản chất của các Pháp còn có tác động ghê gớm như thế nào nữa.
Theo: Chỉ mới chánh niệm thôi thì không đủ
Tác giả: Sayadaw Ashin Tejaniya

Người dịch: Tỳ kheo Tâm Pháp

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Tầm Đạo và Đạo sư

Hỏi :

– Thưa ông, trong chữ guru (đạo sư ), thì chữ gu có nghĩa là bóng tối của sự ngu dốt và chữ ru có nghĩa là người gỡ bỏ, người xua đuổi. Do đó, guru là ánh sáng xua tan bóng tối của sự ngu dốt, và ông chính là cái ánh sáng đó đối với tôi bây giờ. Vậy thì theo ý ông, vai trò của vị đạo sư (guru) là gì, một vị thầy hay là một người tỉnh thức?

J. Krishnamurti đáp:
– Thưa ông, nếu ông dùng từ guru theo nghĩa cổ điển, nghĩa là “xua tan bóng tối của sự ngu dốt”, vậy thì liệu rằng có thể có một người nào đó, bất kể là sáng suốt hay ngu xuẩn, có thể thực sự giúp xua tan cái bóng tối này cho ai không? Giả tỉ như anh A là kẻ ngu tối, và ông là đạo sư của hắn – đạo sư với cái nghĩa là người xua tan bóng tối, người mang gánh nặng giúp cho người khác, người chỉ đường – liệu rằng vị đạo sư như thế có thể thực sự giúp cho kẻ khác được không? Hoặc là hơn thế nữa, vị đạo sư có thể xua tan bóng tối cho kẻ khác, – không phải là lý thuyết suông, mà là trên thực tế không? Có thể nào ông, nếu ông là một vị đạo sư của ai đó, ông có thể xua tan bóng tối cho hắn không? Biết rằng hắn đau khổ, bối rối, thiếu sáng suốt, thiếu tình yêu, buồn bã, liệu ông có thể giúp hắn xua tan được cái bóng tối đó không? Hay là chính bản thân hắn phải cật lực ra mà tự giải thoát? Ông có thể chỉ cho hắn, ông có thể nói: “Nhìn, hãy bước qua cái cửa kia đi”, nhưng mà bản thân hắn phải làm trọn công việc từ đầu cho đến cuối. Cho nên, nếu ông công nhận rằng người này không thể làm giúp người khác cái công việc đó, thì quả thật ông không phải là đạo sư theo cái nghĩa kể trên.

Hỏi :
– Này nhé, đây là chuyện “nếu” … “nhưng mà” … , vậy thì “nếu” như có cái cửa ở đó, tôi phải bước qua. “Nhưng mà” cái sự ngu tối này nó khiến cho tôi không nhìn thấy cái cửa ở chỗ nào. Vậy thì ông, do sự chỉ ra cái cửa, đã gỡ bỏ được sự ngu tối.

Đáp :
– Nhưng mà chính đương sự phải bước. Ông là đạo sư và ông chỉ ra cái cửa. Công việc của ông đến đây là chấm dứt.

Hỏi :
– Tuy nhiên, bóng tối của sự ngu muội đã được gỡ bỏ.

Đáp :
– Không, công việc của ông đã chấm dứt, nay là lúc chính tôi phải đứng lên, bước, và làm tất cả mọi chuyện tiếp theo.

Hỏi :
– Vậy là tuyệt rồi!

Đáp :
— Cho nên không phải là ông đã xua tan cái bóng tối của tôi.

Hỏi :
– Xin lỗi, vậy chứ tôi không biết làm sao mà thoát ra khỏi được cái phòng này. Tôi hoàn toàn mù tịt về sự có một cái cửa đang hiện hữu ở đâu đó, và vị đạo sư đã cởi bỏ sự ngu tối ấy cho tôi. Nhờ vậy, tôi mới làm được những việc cần thiết để thoát ra khỏi căn phòng.

Đáp :
— Thưa ông, xin nói cho rõ. Ngu tối là sự thiếu hiểu biết, hay là thiếu hiểu biết về bản thân, không phải là đại ngã hoặc tiểu ngã. Cái cửa là cái “tôi” mà qua nó, tôi phải tiến. Cái đó không phải ở ngoài “tôi”. Đó không phải là cái cửa thực sự như cái cửa sơn kia. Đó là cái cửa trong tôi mà tôi phải đi qua. Ông chỉ nói: ” Làm đi”.

Hỏi :
– Đúng thế.

Đáp :
– Nhiệm vụ đạo sư của ông đến đây là đã chấm dứt. Ông không còn quan trọng nữa. Tôi không choàng vòng hoa quanh đầu ông. Tôi phải làm mọi việc. Ông không xua tan được bóng tối của sự ngu dốt. Ông đã, đúng hơn, chỉ ra cho tôi rằng: “Anh là cái cửa, và anh, chính bản thân anh phải tự bước qua.

Hỏi :
– Nhưng mà thưa ông, ông có công nhận rằng ”sự chỉ ra cái cửa đó” là cần thiết không?

Đáp :
– Có chứ! Tôi chỉ ra, tôi làm điều đó. Tất cả chúng ta đều làm điều đó. Tôi hỏi một người bộ hành trên đường: ” Xin chỉ cho tôi đường nào đi tới Saanen” và hắn ta chỉ cho tôi. Nhưng tôi không bỏ thì giờ ra để mà cung kính: ” Trời ơi! Ông là nhân vật vĩ đại nhất thế giới”. Thật là quá con nít!

J. Krishnamurti – The Awakening of Intelligence
Người dịch: Danny Việt (ĐPK)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Lợi ích của bình thản chịu đựng


loi-ich-binh-than-chiu-dungKhông ai thích khó khăn, gian khổ đơn giản chỉ vì những điều này rất khó chịu. Nhưng như chúng ta đã biết, không phải tất cả những gì khó chịu đều vô ích hay có hại. Thực ra, phần lớn khổ đau giúp chúng ta thăng hoa rất nhiều phương diện nếu chúng ta biết kiên nhẫn lắng nghe, học hỏi và chiêm nghiệm kỹ càng. Muốn biết vàng ròng phải cần thử lửa, và như vậy muốn vượt qua những thử thách gian khổ để hoàn thành bài học giác ngộ của mình thì trước hết bạn phải có lòng nhẫn nại.
Khi bạn đã có đủ nhẫn nại để vượt qua những trắc nghiệm gian khó thì đồng thời dù không mong đợi bạn vẫn gặt hái được những thành quả xứng đáng bất ngờ.




– Luôn trầm tĩnh sáng suốt: Nhẫn nại và trầm tĩnh luôn đi đôi với nhau, nhờ đó chúng ta có đủ sáng suốt để nhận ra sự thật. Ngược lại “giận mất khôn” luôn là nhược điểm của người thiếu nhẫn nại.
– Sống nhu hòa khả ái: Người nhẫn nại sống nhu hòa hơn cương mãnh, nên họ dễ dàng thích nghi với mọi hoàn cảnh mà vẫn không đánh mất mình. Nói theo Lão Tử thì “Như thắng cương, nhược thắng cường” nên họ được nhiều người kính yêu hơn là thù oán.
– Tránh bệnh tật, tai họa: Người nhẫn nại sẽ dễ dàng tự chủ trong nói năng, hành động và suy nghĩ nên tránh được những tai họa gây ra do nóng nảy bộp chộp. Tránh được những bệnh tật bắt nguồn từ tình trạng căng thẳng, bức xúc.
– Tâm thanh thản thoải mái: Người thiếu nhẫn nại thường tự thiêu đốt mình bằng ngọn lửa sân hận, lo âu và sợ hãi. Trong khi người giàu đức nhẫn nại luôn có cảm giác thư thái, an bình thoải mái.
– Phát triển từ bi hỷ xả: Sau khi vượt qua được sự nóng giận trước những đối tượng không vừa lòng, tâm người nhẫn nại trở nên dịu dàng mát mẻ, đó là biểu hiện của lòng từ ái. Đã làm chủ được tâm sân thì lòng ganh tỵ cũng được loại trừ, vì vậy tâm thường hoan hỷ. Đồng thời, là người từng trải nghiệm khổ đau, họ dễ dàng cảm thông và chia sẻ với những nỗi khổ đau của kẻ khác, đó là lòng bi mẫn. Và họ cũng là người ít cố chấp, câu nệ nên tâm dễ dàng buông xả, quân bình.

Hỏi:

– Đối với những kẻ xấu ác, có hại cho nhiều người, nếu chúng ta chỉ biết nhẫn nại thì làm sao trấn áp hoặc ngăn chận chúng khỏi gây ra hành vi phạm tội?

Đáp:

– Ở đây chúng ta đang nói về đức tính nhẫn nại, chứ chưa nói đến biện pháp giải quyết. Biện pháp thì có rất nhiều như: thương yêu, giáo dục, cải tạo, ngăn ngừa, trừng phạt v.v..và thậm chí khai trừ, loại bỏ,tùy theo từng đối tượng, từng hoàn cảnh. Nhưng để thực hiện những biện pháp này một cách chính xác, có hiệu quả, đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh thì trước hết phải có lòng nhẫn nại. Càng thiếu nhẫn nại, xác suất sai lầm trong xét xử càng cao. Và coi chừng xét xử sai cũng chính là xấu ác thì làm sao cải thiện được những người xấu ác?

Hỏi:

– Tôi có kinh nghiệm là càng nhẫn nhịn càng dễ dàng cho kẻ xấu thực hiện mưu đồ đen tối. Dường như sự nhẫn nhịn luôn bị kẻ xấu lợi dụng, vậy có nên nhẫn nhịn mãi không?

Đáp:

– Thế thì xem ra bạn chưa đủ nhẫn nại hoặc còn có điều gì sai lầm trong đó, bởi vì mặc dù bạn nói đã nhẫn nại nhưng rõ ràng là bạn vừa mới tỏ ra còn ít nhiều ấm ức bất mãn, phải không? Nhẫn nhịn không có nghĩa là nuốt hận chịu thua để cầu an hoặc để phục hận về sau. Người có thể nhẫn nhịn thường rất trầm tĩnh và tự tin, vì vậy người ấy có đủ sáng suốt để tránh được những cách xử sự nóng nảy hấp tấp, và biết sống sao cho hài hòa với mọi người, dù xấu hay tốt, một cách hợp tình hợp lý, không độc tài cũng không xu nịnh. Nhẫn nại là mảnh đất vững chắc thích hợp để nảy nở tình thương yêu, thông cảm và sự hiểu biết đúng đắn, nhờ đó bạn có thể cảm hóa người xấu hơn là cạnh tranh với họ.
Chúng ta cần phải thận trọng trong việc đánh giá người xấu kẻ tốt. Chẳng hạn như người đối nghịch với mình chưa hẳn là xấu, kẻ ủng hộ mình chưa hẳn là tốt. Xấu hay tốt tùy thuộc vào bản chất đạo đứccủa mỗi người. Nói chung, kẻ xấu thường hành động, nói năng, suy nghĩ hại mình, hại người. Ngược lại, người tốt không những không làm hại ai mà còn đem lại lợi ích cho mọi người. Thực ra, người xấu thật bất hạnh, nên được thương yêu tha thứ, vì dù thế nào đi nữa, họ sẽ phải chịu nhiều khổ đau khi phải trả cái giá cho tâm địa xấu xa tội lỗi của mình. Dù khi nhẫn nại, nếu bạn có thể nghiêm khắc để họ khỏi quấy phá, nhưng bạn phải chắc rằng đó không phải là phản ứng phát xuất từ giận dữ, thù ghét, mà bạn chỉ muốn giúp họ trở nên tốt hơn hoặc ngăn chận sự thiệt hại cho nhiều người khác mà thôi. Bạn không nên trừng trị kẻ ác một cách chủ quan theo kiểu “thay Trời hành đạo” mà cứ để ác hữu ác báo theo luật nhân quả tự nhiên.

Hỏi:

– Một số tôn giáo tin vào thuyết định mệnh, cho rằng mọi sự đều đã được an bài. Nhờ vậy họ dễ dàng nhẫn nại hơn. Điều đó có tốt không?

Đáp:
– Thật sự nhẫn nại thì không do áp lực. Niềm tin ở điều gì chưa biết rõ chính là sự sợ hãi áp lực từ bên ngoài. Nhẫn nại không có từ sự phục tùng hay do một giả định mà vì thấy rõ vấn đề và vì sự cần thiết của chính lòng nhẫn nại. Theo Phật giáo, nhẫn nại cũng là một hình thức chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình đã làm trong quá khứ, đồng thời qua hậu quả đó thấy rõ sai lầm để tự điều chỉnh hành vi của mình. Ví dụ, một học sinh có điểm toán thấp, phát hiện ra do mình ham chơi và thiếu chú ý. Bởi vậy,bây giờ em học hành siêng năng và chú ý vào môn toán hơn để tự điều chỉnh sai lầm của mình và tất nhiên sẽ cải thiện được điểm toán của em về sau. Đó hoàn toàn là do nhận thức đúng của em, không phải do định mệnh nào từ bên ngoài.

Hỏi:

– Có mấy người láng giềng luôn ngấm ngầm hãm hại gia đình tôi. Tôi không thể chịu đựng được nữa. Như vậy, tôi nên cố gắng nhẫn chịu hay nên dời nhà đến nơi an toàn để dễ dàng hành thiền hơn? Nếu chấp nhận ở lại không chịu khai thông trở ngại làm sao tôi có thể đạt được giải thoát?

Đáp:

– Trước khi trả lời câu hỏi, tôi xin kể vắn tắt câu chuyện Đức Phật bị sỉ nhục khi đi vào thành Kosambi khất thực. Để trả mối thù tự ái bị tổn thương trước đây, bà thứ phi Migandiyà xứ Kosambi đã xúi giục dân chúng mắng chửi, nhục mạ Đức Phật một cách thậm tệ. Tôn giả Ananda thấy vậy liền xin thỉnh Đức Phật đi qua thành khác khất thực. Đức Phật hỏi nếu qua chỗ khác cũng bị mắng chửi nữa thì sao? Bạch Thế Tôn, thì đi chỗ khác nữa. Phật nói, nếu đi đến đâu cũng bị mắng chửi, thì chúng ta cứ đi, đi mãi, hay sao? Này Ananda, hãy để cho phiền não tự diệt nơi đâu chúng khởi sinh. Quả nhiên, bảy ngày sau dân chúng thành Kosambi không còn nhục mạ Đức Phật nữa.
Đừng tưởng rằng bạn càng tu lên cao thì càng được an toàn hơn. Ngược lại, nếu bạn muốn được tốt hơn thì phải đối đầu với nhiều thử thách hơn. Ngay cả Đức Phật, sau khi giác ngộ vẫn còn chịu tám nạn lớn trong đó có sự mưu sát của Devadatta. Cũng vậy, Đức Chúa bị Juda phản bội và phải chịu cực hình đóng đinh trên thập tự giá. Thánh Gandhi bị thảm sát mặc dù chủ trương bất bạo động.
Nếu chướng ngại là quả của nghiệp thì không có cách nào tránh né được. Như Đức Phật dạy trong kệ Pháp Cú 127: “Không phải trên hư không, không phải giữa biển cả, không phải vào hang sâu, không nơi nào trên đời có thể tìm thấy được chỗ tránh quả ác nghiệp”. Vì vậy, bậc thiện tri thức sợ gieo nhân chứ không sợ gặt quả. Nhiều người làm ác hay làm lành mà chẳng thấy báo ứng đâu cả nên không tin nhân quả nghiệp báo, nhưng đó là vì chưa đến lúc trổ quả mà thôi.
Thực ra, nghiệp quả có ý nghĩa giáo dục rất cao:
Giúp chúng ta biết chịu trách nhiệm về hành vi đạo đức của mình.
Chỉ cho chúng ta thấy ra nguyên nhân đã tạo ra trong quá khứ
Thấy nhân thấy quả chính là thấy bản chất vô thường, khổ và vô ngã của vạn pháp.
Rèn luyện cho chúng ta những đức tính cao quý như nhẫn nại, cảm thông, thương yêu, tha thứ v.v..
Người sẵn sàng đón nhận nghiệp quả mà vẫn định tỉnh sáng suốt, vẫn vượt khỏi tham ưu, chắc hẳn là người đã thong dong tự tại.
Vậy tại sao bạn không nhân sự quấy rầy của những người hàng xóm để trưởng dưỡng đạo tâm như nhẫn nại, thương yêu, cảm thông và trí tuệ? Thật ra khi trong tâm còn phiền não thì dù đi tới chân trời góc biển nào khổ vẫn bám theo. Chúng ta luôn muốn đổi mới nhưng thực ra chỉ đổi cái khổ này qua cái khổ khác. Rồi chúng ta không ngừng chọn lựa, nhưng khi đã chọn bề mặt thì chúng ta cũng phải lấy luôn bề trái.

Hỏi:

– Mặc dù tôi cũng tin như vậy, nhưng thật khó mà nhẫn nhục được với hạng người vừa hung ác vừa xảo quyệt. Họ vừa ăn cướp vừa la làng, hại người này rồi đổ tội cho người khác. Khổ nỗi họ khéo nịnh bợ cấp trên nên luôn được che chắn, ô dù. Cho nên hạng người này cần được triệt hạ đi vì sự an lạc của mọi người, sao lại phải cam tâm chịu nhịn với chúng?

Đáp:

– Tôi hoàn toàn thông cảm với bạn, và hầu như phần lớn chúng ta đều muốn như vậy. Nhưng trên thực tế triệt hạ người ác đâu có dễ, phải không? Ai mà biết chúng ta triệt hạ họ hay họ triệt hạ chúng ta trước rồi! Dù sao, bình tĩnh chịu đựng sẽ tốt hơn, vì cuối cùng nhẫn nại vẫn là thượng sách. Biết đâu bạn càng cố thanh trừng gắt gao, kẻ xấu càng trở nên ma mãnh hơn trong khi nếu bạn trầm tĩnh nhẫn nại thì mọi việc sẽ được giải quyết sớm sủa hơn nhiều.
Lúc đầu phần lớn chúng ta đều cảm thấy khó chịu khi quan hệ với người xấu, nhưng sau một thời gian ứng phó với họ, xem ra chúng ta trưởng thành hơn, bản lãnh hơn, khôn ngoan hơn và tiến bộ hơn rất nhiều. Phải chăng đó là những thủ thách mà mọi người phải trải qua trên đường chuyển hóa? Không chừng một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra rằng chính hạng người này đã vô tình giúp bạn tự khám phá, tự điều chính để hoàn thiện chính mình. Không có những thử thách đó làm sao bạn có thể biết mình và biết người một cách rõ ràng cụ thể? Nhận ra điều này, hẳn bạn sẽ cảm ơn những kẻ khó chịu này.
Người làm ác cũng có nỗi khổ riêng của họ: những toan tính bạc đầu, những lo âu sợ hãi, những ray rứt khôn nguôi trong lòng; lại còn bị căm thù, phỉ nhổ, nguyền rủa, khinh khi v.v..từ bên ngoài. Vậy bạn đừng phản ứng khinh suất. Hãy để họ học ra bài học của chính họ từ quả đắng tự nhiên của hành động ác, một cách công minh xác đáng. Dù sao, họ cũng đáng thương, cần được cảm thông hơn là ghét bỏ, hãy cầu nguyện cho họ sớm học ra bài học của mình để biết hồi đầu hướng thiện. Cái chính là bạn phải tự khám phá xem chính mình có xấu xa đê tiện không trước khi quan tâm sửa trị những điều thị phi của người khác.

Hỏi:

– Sống thì phải có ước mong, hy vọng một tương lai tươi sáng hơn, chẳng lẽ chỉ nhẫn nại với hiện tại là đủ sao? Sự việc là vợ chồng tôi đang nỗ lực kiếm sống, nhưng chưa đủ tiền để mua nhà nên phải ở nhà trọ. Vậy chúng tôi có quyền hy vọng và phấn đấu để có được một ngôi nhà, hay cứ cam tâm nhẫn chịu tình hình hiện tại?

Đáp:

– Tôi cũng chúc bạn có thể sớm sở hữu một ngôi nhà như ý. Nhưng muốn đạt được mục đích như vậy, trước tiên bạn phải biết bình tĩnh đợi chờ. Bình tĩnh đợi chờ là cốt cách của lòng nhẫn nại. Bạn có quyền hy vọng và phấn đấu cho tương lai của mình. Không ai bắt bạn phải bằng lòng với hiện tại, nhưng trước hết phải có lòng nhẫn nại, nếu bạn nóng vội thì thất bại là cái chắc.
Khi bạn đang trong tình trạng không vừa ý thì càng mong một tương lai tốt đẹp hơn bạn càng bị đè nặng bởi áp lực thời gian, và cảm thấy hiện trạng của mình tồi tệ hơn. Và cứ thế, bạn kéo dài sự bất an căng thẳng làm phá hỏng không khí đầm ấm của gia đình bạn: thậm chí có thể làm cho nó đổ vỡ trước khi bạn nhìn thấy giấc mơ của mình có trở thành hiện thực hay không. Nếu nhẫn nại, bạn sẽ không còn tạo ra áp lực thời gian và có thể dễ dàng đối mặt với thực trạng của mình. Hơn nữa, bạn sẽ có đủ trầm tĩnh sáng suốt để biết cần làm gì tốt nhất cho căn hộ tương lai mà bạn hằng mong đợi.■


Viên Minh

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Bài Phỏng Vấn Eckhart Tolle - Oprah

...Tám năm trước, một người bạn của tôi Meg Ryan nói với tôi về cuốn sách Sức mạnh của hiện tại: Đó là một sự hướng dẫn giác ngộ tâm linh của Eckhart Tolle. Nó là một trong những cuốn sách làm thay đổi tôi nhiều nhất, mà tôi từng đọc, tôi mang theo một bản copy theo đi bất kỳ nơi nào, tôi lật đi lật lại nhiều lần những trang được đánh dấu. Với bất kỳ ai đang tìm một hướng đến với cuộc sống có kết nối hơn, cuộc sống đầy hứng thú, rất cần thiết nên đọc cuốn sách Sức mạnh của hiện tại, và tiếp theo là những cuốn khác của Eckhart như là ; Sức mạnh của tĩnh lặng và Một thế giới mới - sách giải thích các nguyên tắc cốt lõi, những cuốn sách này đã mang tơi sự đồng cảm sâu sắc với tôi và hàng ngàn người khác: Thuật ngữ thời điểm ngay bây giờ mà chúng ta thực sự chí có duy nhất. Hạnh phúc không phải ở trong tương lai hoặc quá khứ, mà là nhận biết ra nó ngay trong hiện tại...

Oprah: Đầu cuốn sách Sức mạnh của hiện tại, ông mô tả lúc 29 tuổi và ông đã nghĩ tới chuyện tự tử, ông nghĩ rằng, ông không thể sống với bản thân mình nữa.... Và sau đó đột nhiên ông tỉnh thức nhận ra suy nghĩ kỳ lạ đó là cái gì? Tôi là một hay là hai người? Nếu tôi không thể sống với bản thân mình, chắc phải có hai cái tôi: "Tôi" và " bản thân tôi ". Có lẽ... chỉ một trong hai cái tôi là thật. Tôi thích thú điều này vì đây là lần đầu tiên tôi suy nghĩ vậy, Khi tôi nói, "Tôi sẽ nói với bản thân tôi một cái gì đó,"ailà"tôi"và ailà" bản thân tôi"? Đó là câu hỏi cốt yếu, phải không?

Eckhart: Đúng vậy. Hầu hết mọi người không nhận thức được rằng họ có một người đàn ông nhỏ hoặc người phụ nữ trong đầu của họ mà luôn luôn nói và người đang nói trong đầu là ai hoàn toàn bị đồng hóa là tôi. Trong trường hợp của tôi, và trong trường hợp của nhiều người, những tiếng nói trong đầu là một trong những điều bất hạnh, do đó, có một số lượng lớn suy nghĩ tiêu cực liên tục được tạo ra bởi cuộc đối thoại thiếu tỉnh thức bên trong đầu.

Oprah: Chuyện gì xảy ra mà ông có thể nhận ra điều này?

Eckhart: Một đêm, vào thời điểm đã được đề cập trong lúc tôi có suy nghĩ tự tử, có một sự tách biệt xảy ra giữa những tiếng nói miên man như những dòng suối không ngừng suy nghĩ trong đầu và tự ý thức nhận ra giọng nói đó, và có một ý thức sâu sắc hơn về sự cảm nhận bản thân, mà sau này tôi mới nhận ra là tự tỉnh thức, chứ không phải là một cái gì đó được tỉnh thức thông qua suy nghĩ.

Oprah: Khi ông nhận ra rằng giọng nói trong đầu ông là tách biệt với sự tỉnh thức, điều đó làm bừng tỉnh tâm trí của ông?

Eckhart: Vâng, đúng là như vậy.Tôi không hiểu nó, tôi chỉ nhận ra những ngày tiếp theo đó tôi đột nhiên cảm thấy bình yên. Có một cảm giác sâu sắc của bình tĩnh bên trong, mặc dù đã bên ngoài không có gì thay đổi, vì vậy tôi biết một cái gì đó đã xẩy ra. Sau một thời gian có sự biến chuyển này, tôi đã nói chuyện với một Thiền sư người đó nói với tôi rằng Thiền thì rất đơn giản: Bạn không còn phụ thuộc vào suy nghĩ; bạn ở phía sau của suy nghĩ. Sau đó, tôi nhận ra đó là những gì đã xảy ra với tôi. Tất cả những gì không hài lòng, những suy nghĩ lặp đi lặp lại đã không còn ở trong đầu nữa.

Oprah: Sự đồng hóa với những suy nghĩ và giọng nói trong đầu chúng ta đến từ đâu?

Eckhart: Cảm nhận về cái tôi có nguồn gốc từ suy nghĩ của chúng ta, nó bao gồm tất cả những ký ức của chúng ta, những điều kiện của chúng ta và sự tự cảm nhận về bản thân của chính nó, đó chỉ là một khái niệm bắt nguồn từ quá khứ. Điều này cần thiết đối với mọi người nhận ra rằng giọng nói đó đang xảy ra bên trong chúng ta không ngừng, và đó là một bước đột phá khi mọi người nhận ra điều này, "Đây chỉ là tất cả các thói quen, lặp đi lặp lại, những suy nghĩ tiêu cực và Tôi nhận ra những suy nghĩ đang diễn ra trong đầu. " Sự đồng hóa đột nhiên bị phá bỏ. Điều đó, đối với nhiều người, là bước đầu tiên đột phá tâm linh.

Oprah: Tâm linh đó như thế nào?

Eckhart: Tôi nhận ra điều này khi không còn tin vào suy nghĩ này hay suy nghĩ khác, nhưng khi bước ra khỏi sự đồng hóa của dòng suy nghĩ. Bạn đột nhiên thấy có một không gian khác sâu sắc hơn so với suy nghĩ bên trong bạn.

Oprah: Và đó là cái gì?

Eckhart: Tôi gọi đó là sự tĩnh lặng. Đó là một sự hiện diện của ý thức, không có gì để làm với quá khứ, hay tương lai. Chúng ta cũng có thể gọi nó là " Thức tỉnh ". Đó là lý do tại sao nhiều truyền thống tâm linh sử dụng thuật ngữ Tỉnh thức. Bạn thức dậy thoát ra khỏi giấc mơ của suy nghĩ. Bạn trở thành ở trạng thái hiện tại.

Oprah: Cuốn sách; Sức mạnh tĩnh lặng của ông nói về sự thức tỉnh này. Tôi thấy ấn tượng với câu: " Khi bạn nhận ra giọng nói đó, bạn nhận ra rằng bạn là ai đó không phải là giọng nói đó – không phải người đang suy nghĩ đó, nhưng bạn là ai đó nhận ra những suy nghĩ đó. "

Eckhart: Đúng vậy. Dòng suy nghĩ được kết nối với quá khứ. Tất cả kỷ niệm của bạn, hình mẫu cư xử, cảm xúc đã qua,vân vân.., tất cả chúng đều là một phần của điều đó, nhưng nó không phải là bạn. Điều này là một sự ngạc nhiên. Tất nhiên, rồi tâm trí lại hỏi, "Vậy thì cho tôi biết tôi là ai. "

Oprah: Đó là câu hỏi lớn. Vậy, câu trả lời là gì?

Eckhart: Câu trả lời là, bạn không thể xác định được qua suy nghĩ hoặc đặt tên cho tình trạng thức tỉnh này,hoặc sử dụng các định nghĩa, bởi vì nó ở phía sau của suy nghĩ. Đó là cảm giác rất hiện hữu, hay là sự hiện diện, đó là khi bạn thức tỉnh vào thời điểm hiện tại. Về bản chất, bạn và chúng ta gọi nó là giây phút hiện tại, là ở cấp độ sâu xa nhất. Bạn tỉnh thức nhận ra tất cả mọi thứ, mọi suy nghĩ phát khởi trong trạng thái tỉnh thức này, và mỗi suy nghĩ lại biến mất trở lại vào trong trạng thái thức tỉnh. Bạn là một người tỉnh thức, có một không gian tỉnh thức, và tất cả cảm nhận của giác quan, suy nghĩ, và cảm xúc đến và đi trong không gian tỉnh thức này.

Oprah: Ông thường đề cập rằng: Suy nghĩ như là một tai họa thật khủng khiếp, thậm chí là một căn bệnh, là rào cản lớn nhất để trở về với sức mạnh trong hiện tại. Nhưng, không có suy nghĩ có là con người không? Không có suy nghĩ thì chúng ta khác với con vật không?


Eckhart: Vâng, suy nghĩ có thể là một công cụ mạnh mẽ và tuyệt vời. Công cụ này chỉ trở thành một phiền não nếu chúng ta xuất phát từ nhận thức chúng ta về nó, chúng ta là giấc mơ của suy nghĩ. Trong trường hợp đó, bạn liên tục nói với mình những gì tôi gọi là " câu chuyện của tôi. " Đối với nhiều người, nó là một câu chuyện không hạnh phúc, vì thế họ luôn luôn ở trong quá khứ. Đó là một trạng thái rối loạn chức năng và là tình trạng không hạnh phúc.

Oprah: Chúng ta đang sống trong một thế giới mà hầu hết mọi người tin rằng họ là câu chuyện của họ. "Tôi sinh ra trong gia đình này, đây là nơi mà tôi đã được lớn lên, đó là những điều đã xảy ra với tôi, và đây là những gì tôi đã làm... " Nếu bạn không phải là câu chuyện của bạn, khi đó bạn là ai?

Eckhart: Đó là một câu hỏi rất hay. Bạn không thể phủ nhận, tất nhiên, những sự kiện này tồn tại, lịch sử cá nhân của một người có vị trí của nó, và nó cần phải được tôn trọng. Điều đó không phải là vấn đề, trừ khi bạn trở nên hoàn toàn bị đồng hóa trong không gian đó. Bạn trải nghiệm trong quá khứ của bạn như thế nào? Đó chỉ là những kỷ niệm. Và những kỷ niệm này là cái gì? Đó chỉ là suy nghĩ trong đầu của bạn. Nếu bạn đang hoàn toàn đồng hóa với những suy nghĩ trong đầu của bạn, khi đó bạn bị mắc kẹt trong quá khứ. Vậy, đó là tất cả con người bạn phải không? Hoặc là bạn phải là cái gì nhiều hơn những quá khứ đó? Khi bạn bước ra khỏi sự đồng hóa đó và nhận ra lần đầu tiên mà bạn đang thực sự hiện diện đằng sau suy nghĩ, khi đó bạn có thể sử dụng suy nghĩ khi cần thiết và có ích. Khi đó bạn không còn bị trói buộc bởi tâm trí suy nghĩ, khi đó suy nghĩ sẽ trở nên có ích và hưu ích. Nếu bạn không bao giờ vượt qua tâm trí suy nghĩ và không thức tỉnh về không gian đó, thì suy nghĩ tiếp tục tạo ra xung đột trong tất cả các mối quan hệ.

Oprah: Cho tôi biết thêm về không gian đó.

Eckhart: Đó là một không gian, có sự hiện diện tỉnh thức mà bạn có thể mang đến cho bất kỳ mối quan hệ nào. Ví dụ, khi bạn lắng người bạn đời của bạn hoặc một người bạn hoặc thậm chí lắng nghe một người quen, bạn có ở đó với không gian tỉnh thức khi lắng nghe được không? Hay là, trong khi người khác đang nói, bạn không ngừng suy nghĩ, chuẩn bị các điều tiếp theo để trả lời? Bạn đang đánh giá và phê phán những gì bạn đang nghe, hay là bạn đang ở đó với không gian tỉnh thức với với họ? Tôi có thể nói rằng đó là món quà lớn nhất bạn có thể cho một người nào đó. Điều này đặc biệt quan trọng đối với cha mẹ và con cái, cũng như trong các mối quan hệ thân thiết. Bạn có thể lắng nghe người khác trong trạng thái đơn giản của sự tỉnh táo ở đó bạn không có đánh giá những gì bạn đang nghe? Nếu bạn có thể, khi đó bạn đang hiện diện chứ không phải đơn thuần là một con người. Bạn không áp đặt, gắn nhãn hiệu, đánh giá, hoặc định nghĩa về người khác. Có một mức độ sâu sắc hơn về sự tỉnh thức.

Oprah: Đối với những người như chúng tôi vẫn đang tiếp tục làm việc với ý tưởng là tách mình khỏi giọng nói trong đầu, làm thế nào để chúng tôi trở thành một không gian không phán xét?

Eckhart: Bạn có thể tạo ra bằng cách nâng cao sự tỉnh thức hơn trong giây phút hiện tại trong cuộc sống của bạn. Ví dụ, tôi khuyên mọi người mang lại giây phút tỉnh thức trong các hoạt động hàng ngày mà họ làm một cách vô thức. Khi bạn rửa tay, khi bạn pha một tách cà phê, khi bạn đang chờ đợi thang máy, thay vì nuông chiều suy nghĩ, tất cả những cơ hội này hãy sử dụng đem lại sự tĩnh lặng, sự tỉnh thức.


Oprah: Đúng thế. Giống như khi mọi người tắm vòi sen vào buổi sáng, họ dường như đang không ở trong phòng tắm, họ đang suy nghĩ về việc đến văn phòng, những gì họ phải làm ngày hôm đó, và lập danh sách thay vì cảm nhận cảm giác của nước ở trong thời điểm hiện tại đó.

Eckhart: Đúng vậy. Mang lại những không gian tĩnh lặng vào cuộc sống hàng ngày của bạn, càng nhiều càng tốt. Khi bạn ở trong otô, đóng cửa lại và ở đó chỉ nửa phút, hãy hít thở, cảm nhận năng lượng bên trong cơ thể của bạn, nhìn xung quanh bầu trời, cây cối. Tâm trí của bạn có thể nói với bạn, tôi không có thời gian. Nhưng đó là tâm trí của bạn đang nói chuyện với bạn. Ngay cả những người bận rộn nhất có thời gian khoảng 30 giây của cho không gian tĩnh lặng này.


Oprah: Cuốn sách Sức mạnh của hiện tại giúp tôi rất nhiều lần. Khi có một vấn đề thực tế, trong những ngày bận rộn nhất. Tôi vừa trở về từ châu Phi,tôi thiếu thời gian ngủ, và sáng nay thức giấc và suy nghĩ, Chúa ơi, tôi có lẽ đang bị stress mất, nhưng tôi để cho suy nghĩ đó đến và đi, tôi sẽ phải ở trong trạng thái hiện tại ngay bây giờ, tôi phải quay bốn chương trình truyền hình ngày hôm nay, và tôi đã rất vui mừng về việc được nói chuyện với ông, nhưng tôi vẫn tự nói với ban thân tôi, đừng nghĩ về bao nhiêu công việc bạn phải làm hôm nay, chỉ cần có mặt trong giây phút hiện tại. Và đó là những gì tôi đã đạt được cho đến cuối ngày, vào thời điểm này.

Eckhart: Đó là một sự tập trung liên tục vào những gì thực sự quan trọng, những gì quan trọng nhất trong cuộc đời của bất cứ ai, đó là giây phút hiện tại. Mọi người không nhận ra rằng hiện tại là tất cả, không có quá khứ hay tương lai ngoại trừ chỉ là những ký ức hoặc những dự đoán của tâm trí trong tương lại.

Oprah: Trong cuốn sách sức mạnh của hiện tại, ông nói không có quá khứ. Cần phải có một quá khứ, bởi vì có tất cả các kỷ niệm của chúng ta, tất cả những cái này để xác định bản thân chúng ta.

Eckhart: Không ai có thể phủ nhận thực tế là có một thứ như là thời gian. Chúng ta sử dụng thời gian để gặp nhau ở đây, nếu không nó sẽ rất khó khăn.

Oprah: Đúng vậy. Chúng ta nhất trí về thời gian này, và chúng ta đang ở đây, bởi vì đây là bây giờ.

Eckhart: Đúng. Vì vậy, thời gian là một cái gì đó mà chúng ta không thể làm mà không có. Chúng ta thậm chí có thể nói thời gian là những gì chi phối toàn bộ cuộc sống mà chúng ta trải nghiệm ở đây, ở mức độ bề mặt của thực tại. Tất cả mọi thức hoàn toàn bị chi phối bởi thời gian, quá khứ và tương lai luôn nối tiếp nhau. Mọi người nhìn thời gian với hy vọng rằng thời điểm nào đó cuối cùng sẽ làm cho họ hạnh phúc, nhưng bạn không thể tìm thấy hạnh phúc thật sự bằng cách nhìn hướng tới tương lai. Như đã nói có hai cách làm cho chúng ta thất vọng: Một là không đạt được những gì bạn muốn, hai là đạt được những gì bạn muốn. Nếu bạn nghĩ như vậy, sẽ có một cách sẽ làm cho bạn hạnh phúc khi bạn đạt được điều bạn muốn, bạn sẽ tiếp tục tập trung vào thời điểm tiếp theo, bạn không bao giờ sống trong hiện tại, đó là cách mà hầu hết chúng ta đang có.

Oprah: Có mó sột một điều mà làm tôi thay đổi khi tôi đọc cuốn sách Sức mạnh của hiện tại: Ông đã viết rằng tất cả các căng thẳng của chúng ta chủ yếu dựa trên suy nghĩ về những gì đã xảy ra trong quá khứ hoặc những gì sẽ xảy ra trong tương lai, và rằng, bất kể vấn đề khủng hoảng gì đang xẩy ra với cuộc sống của bạn, nếu bạn có thể hít một hơi thật sâu và nhìn vào những gì đang xảy ra bây giờ, trong thời điểm hiện tại, bạn có sao đâu.

Eckhart: Đúng vậy. Nhiều người tự đồng hóa những vấn đề mà họ đang có, hoặc nghĩ rằng họ đang có vấn đề. Khi tôi hỏi thực tế, tôi hỏi mọi người, " vấn đề bạn đang có tại thời điểm ngay bây giờ là gì? không phải trong một giờ nữa hay ngày mai, những vẫn đề bạn có ngay tại thời điểm này là gì? " Đôi khi, họ đột nhiên sẽ thức tỉnh khi nghe câu hỏi đó, bởi vì họ nhận ra rằng vào thời điểm đó, họ không có một vấn đề gì cả.

Oprah: Có lẽ ở thời điểm đó, trong thời điểm đang nghe ông giảng dậy, nhưng nếu đang ở trong một tình huống nguy hiểm trong thời điểm hiện tại? Đó là một vấn đề! Tiếp theo là gì?

Eckhart: Nếu nguy hiểm phát sinh trong thời điểm hiện tại, có thể là một cảm xúc. Thậm chí còn có thể đau. Nhưng đó là một thách thức, không phải là một vấn đề. Một vấn đề tồn tại, bạn cần thời gian và những hoạt động của tâm trí lặp đi lặp lại. Trong một tình huống nguy hiểm, bạn không có thời gian để biến nó thành một vấn đề. Vì vậy, khi mọi người hỏi làm thế nào họ có thể vượt qua được vấn đề của họ, tôi gợi ý rằng họ hãy sống trong giây phút hiện tại và xem những gì vấn đề hiện tại là gì. Họ luôn luôn phải thừa nhận rằng, " Đúng, ngay bây giờ tôi không thực sự không có vấn đề gì. " Thậm chí ngay cả những người đang thi hành án tù chung thân đã viết thư cho tôi nói, "Tôi hiểu thông điệp của bạn, và tôi đã trở nên tự do. " Họ được tự do ở bên trong.

Oprah: Được rồi, nếu ông không ở trong một tình huống nguy hiểm, nhưng tình huống bình thường, những vấn đề hàng ngày? Tôi có rất nhiều thứ cuốn tôi đi tại thơi điểm bây giờ.


Eckhart: Bắt đầu bằng cách đi vào giây phút hiện tại cốt để bạn thấy một không gian mà ở đó những vấn đề không thể tồn tại. Trong giây phút đó, bạn liên lạc được với một trí tuệ sâu sắc hơn cái tâm suy nghĩ nhiều. Đó là nơi mà trực giác, hành động sáng tạo, kiến thức và trí tuệ được tạo ra. Hãy chắc chắn rằng tại thời điểm đó bạn không ở trong trạng thái tiêu cực, bởi vì bạn có thể có những hành động trên cơ sở các tiêu cực, ví dụ, bạn có thể cảm thấy bực tức về việc không có nhiều tiền. Bạn làm việc cực kỳ chăm chỉ và sau một số năm bạn trở nên giàu có. Nhưng tất cả những hành động đó bị ô nhiễm bởi tiêu cực nếu nó phát khởi từ tâm trạng bực tức, và nó sẽ tạo thêm đau khổ cho chính mình và những người khác.

Oprah: Làm thế nào ông có thể thay đổi điều đó?

Eckhart: Hãy xem xét cách bạn liên quan tới thời điểm hiện tại. Khi bạn làm điều đó, bạn thật lòng tự hỏi, mối quan hệ của tôi với cuộc sống là gì? Chỉ có thời điểm hiện tại là cuộc sống của bạn. Không có nơi nào khác, không bao giờ hết. Vì vậy, không có bất kỳ tình huống nào song hành với bạn ngoài giây phút hiện tại, tìm một điều gì đó làm bạn hài lòng. Tâm trạng hài lòng là một phần thiết yếu để sống trong giây phút hiện tại. Khi bạn đi sâu vào hiện tại, tâm trạng hài lòng tự động phát sinh, thậm chí ngay hơi thở cũng làm bạn hài lòng, bạn hài lòng khi cảm nhận sự sống của cơ thể của bạn. Tâm trạng hài lòng ở đó khi bạn có hiểu biết sự sống trong giây phút hiện tại, đó là nền tảng cho cuộc sống viên mãn. Một khi bạn sống trong giây phút hiện tại với bạn bè bạn sẽ cởi mở và chấp nhận, hành động của bạn sẽ tạo ra được cảm hứng, có trí tuệ, và trao quyền, bởi vì sức mạnh của sự sống sẽ được chảy thông qua bạn.

Oprah:Thậm chí ngay cả những gì đang xảy ra trong thời điểm đó là làm cho bạn khó chịu.

Eckhart: Đúng vậy, thậm chí nếu tâm trí phán xét lúc đó là tiêu cực. Thi thoảng tâm trí sẽ nói cho bạn biết không có quan điểm nào cần phải cố gắng. Nhưng bạn không cần phải tin rằng tất cả mọi suy nghĩ đều đến từ trong tâm trí của bạn.

Oprah: Ông có thực hành trong mọi thời gian không?Ông có luôn sống trong hiện tại không?

Eckhart: Có. Thỉnh thoảng nếu tôi thấy ai đó gây tổn thưởng với người khác, sự bực tức có thể phát sinh một trong thời gian rất ngắn và tan biến. Nhưng nó không có liên quan gì tới trí não và không tạo ra một số lượng lớn các suy nghĩ vô ích. Cảm xúc có thể đến và đi, nhưng tôi đang ở trong một trạng thái bao bọc sự bực tức, bởi vì những gì đang xảy ra là tình trạng hiện tại. Bạn thực sự không thể tranh cãi với nội tâm, nếu bạn tranh cãi, bạn đau khổ.


Oprah: Nhưng chấp nhận bất cứ điều gì đang xảy ra làm cho ông không mãnh liệt với cuộc cuộc sống có phải không?

Eckhart: Không, Thực tế không phải như vậy. Bạn nhiệt tình hơn khi bạn đang sống với nội tâm song hành với giây phút hiện tại. Bạn không còn sự đối kháng bên trong, bạn không còn cảm xúc tiêu cực và tâm trí không còn phàn nàn và phán xét. Mọi người có một số lượng lớn các sự phàn nàn phán xét đang diễn ra trong tâm trí họ. Một số thậm chí còn tạo ra lời nói.

Oprah:Và thường họ đang phàn nàn về những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Eckhart: Hoặc là những gì nên xảy ra nhưng không đúng theo ý họ. Đấy là những cách để phủ nhận giây phút hiện tại. Đó là một tình trạng rất bất thường vì cơ bản bạn đang phủ nhận cuộc sống của mình. Không có cuộc sống bên ngoài nào ngay vào giây phút hiện tại đó.

Oprah: Được rồi, nhưng làm thế nào để chúng tôi có kế hoạch cho tương lai? Tất cả chúng ta nói rằng chúng ta nên làm như vậy, không bị chi phối bởi nó.

Eckhart: Vâng, việc lập kế hoạch cho tương lai, bạn không cần phải đánh mất bản thân mình trong tương lai. Câu hỏi là, bạn đang sử dụng thời gian ở bình diện thực tế, hay là bạn đang đánh mất đi chính mình trong tương lai? Nếu bạn nghĩ rằng khi bạn có cơ hội đi nghỉ mát, hoặc tìm được bạn đời lý tưởng, hoặc có được một công việc tốt hơn hoặc một nơi đẹp hơn để sống hoặc bất cứ điều gì, và rồi cuối cùng bạn sẽ được hạnh phúc, đó là khi bạn đánh mất bản thân mình trong tương lai. Đó là sự phóng chiếu hình ảnh tâm chí cách biệt với giây phút hiện tại. Đó là sự khác biệt giữa thời gian đo đếm, trong đó nó được đặt trong thế giới này, và thời gian tâm lý, đó là nỗi ám ảnh liên tục với quá khứ và tương lai. Cần phải có một sự cân bằng trong việc giải quyết mọi thứ trong thế giới này, trong đó thời gian và những suy nghĩ không bị mắc kẹt tại đấy. Có một không gian sâu lắng bên trong bạn, nó ở bên ngoài của suy nghĩ và thời gian, và đó là sự tĩnh lặng bên trong, sự an lạc, một cảm giác sâu lắng, cảm giác sống động của sự sống đang hiện diện. Bạn rất đam mê về cuộc sống trong trạng thái đó.

Oprah: Ồ. Đó là những gì chúng tôi đang tìm kiếm ở đấy! Sức mạnh của hiện tại là một trong những cuốn sách khai sáng nhất mà tôi từng có đặc quyền được đọc. Tại sao ông cảm thấy cần phải viết cuốn tiếp theo, Sức mạnh của tĩnh lặng?

Eckhart: Việc giảng dạy được phát triển trong những năm sau khi cuốn sách xuất bản, tôi đã có một số góc nhìn mới về cơ bản của sự thật. Ngoài ra, có nhiều điều hơn để nói về những điều ngăn cản sự thức tỉnh trong mỗi chúng ta, có một cách để miêu tả về nó, đó là bản ngã của con người.

Oprah:Đây là điều yêu thích của tôi khi thảo luận về bản ngã. Cách thức bản ngã ngăn cản sự thức tỉnh như thế nào?

Eckhart: Vâng, đầu tiên chúng ta cần phải thấy rõ cái gì bản ngã. Nó không chỉ là ích kỷ hay kiêu ngạo hoặc nghĩ mình tài giỏi; bản ngã là sự đồng nhất với những dòng suy nghĩ. Sự khởi đầu của bản ngã được mô tả trong Kinh Thánh với những câu chuyện nổi tiếng của về quả táo: Adam và Eva ăn trái quả thiện ác, và họ bị mất đi trạng thái trong trắng, trong Kinh Thánh được gọi là mất đi trạng thái thiên đường, họ bị mất đi một trạng thái kết nối sâu sắc. Tôi không nghĩ rằng bản ngã ngay lập tức được mô tả trong Kinh Thánh. Đối với tôi, câu chuyện đó đề cập về căn nguyên của khả năng suy nghĩ, phán xét: Điều này là tốt, điều này là xấu. Và tôi tin rằng phải mất một thời gian lâu dài đến khi con người đạt tới một mức độ ở đó họ đồng hóa toàn bộ cảm nhận của họ, họ là những dòng suy nghĩ, tâm trí hoàn toàn tạo ra kỷ niệm, những điều kiện trong quá khứ, và các khái niệm do tâm trí tạo ra. Đấy là bản ngã mà mọi người đã đồng hóa.

Oprah:Trong cuốn sách mới nhất của ông, cuốn một thế giới mới, ông viết rằng bản ngã không là gì hơn ngoài việc đồng hóa với hình thức, hình thức vật lý, các khuân mẫu suy nghĩ, các khuân mẫu cảm xúc, và bất kỳ điều xấu xa-đây cũng là định nghĩa về bản ngã: hoàn toàn đồng hóa với hình tướng.

Eckhart: Đúng vậy.

Oprah: Và đó là kết quả hoàn toàn thiếu tỉnh thức của việc kết nối với tất cả chúng sinh, cũng như với nguồn gốc, và sự quên lãng với nguồn gốc thật sự của chúng ta. Khi tôi đọc điều đó, tôi nghĩ. Ông nói đúng, Mọi hành động xấu xa hay tội lỗi mà chúng ta đã nghe, được mô tả hoàn toàn là do thiếu sự kết nối, thiếu hiểu biết và cho rằng tôi là người mà tôi đang bị xúc phạm

Eckhart: Đúng vậy. Cách sống thông qua tâm trí xác định bạn là ai, bạn đã đưa mình vào chiều sâu sắc hơn của sự sống bạn thực sự là ai nằm ở phía sau của suy nghĩ của bạn. Những gì nẩy sinh sau đó chỉ là những quan niệm: Tôi là cái này, tôi là cái kia. Một khi bạn đang bị mắc kẹt trong khái niệm của riêng bạn, mà khái niệm dựa trên suy nghĩ và hình ảnh tâm trí tạo ra, sau đó bạn làm tương tự với những người khác. Đây là sự khởi đầu của sự phán xét về người khác, và rồi bạn tin rằng sự phán xét là sự thật. Đó là sự khởi đầu của sự mê hoặc bản thân mình là ai mà loài người đang cho là đúng.


Oprah: Ông cũng đã nói về cách chúng ta đồng hóa bản thân với danh tiếng trong cuốn sách một thế giới mới, và càng gắn nhiều tên gọi thì càng đồng hóa với nó nhiều hơn

Eckhart: Tất cả bản ngã muốn là trở thành đặc biệt. Nếu nó không thể được đặc biệt bằng cách vượt trội so với những người khác, nó cũng tự hào với những khổ đau đặc biệt nào đó. Ví dụ có người nói, "Tôi bị nhức" và người khác nói, "Tôi cũng đã bị nhức đầu một tuần" Thực tế mọi người cạnh tranh để xem ai là khốn khổ hơn ! bản ngã nào càng thể hiện nhiều hơn người khác thì người đó nghĩ rằng tôi giỏi hơn ngươi khác. Nếu bạn nhận ra trong bản thân mình rằng vô thức cần một cái gì đó đặc biệt, khi đó bạn được tự do, bởi vì khi đó bạn nhận ra tất cả khuân mẫu của bản ngã.

Oprah:Các khuân mẫu khác của bản ngã là gì?

Eckhart: Bản ngã tồn tại phải có thời gian. Bản ngã luôn muốn xung đột với người khác. Nó cần kẻ thù, bởi vì hiện diện thông qua sự thể hiện khác với mọi người. Các quốc gia làm điều đó, các tôn giáo làm điều đó. Nếu bạn đồng hóa với một tôn giáo cụ thể, bạn không tin các tôn giáo khác – để cảm thấy bản thân mình sâu sắc hơn.

Oprah: Bạn đã giải thích điều này rằng bản ngã bắt đầu phát sinh khi một đứa trẻ đầu tiên có một món đồ chơi, và nếu món đồ chơi được lấy đi hoặc không đưa cho nó, nó nói "Không, món đồ chơi đó là của tôi. "

Eckhart: Đó là sự khởi đầu của sự đồng hóa với bản ngã.

Oprah:Và chuyện gì xẩy ra là, tất cả chúng trưởng thành và cũng chỉ tìm kiếm những món đồ chơi lớn hơn.

Eckhart: Đúng vậy. Bản ngã luôn đồng hóa với một hình thức khác nhau, mà có thể là một vật sở hữu như là nhà của tôi, xe của tôi, vân vân... Cảm giác của bạn là ai khi bạn đang có những thứ đó. Khi những thứ đó bị phê phán bởi một ai đó, bạn mãnh liệt phòng thủ hay phản ứng bởi vì cảm giác của bạn tự đang bị đe dọa. Có nhiều khuân mẫu đồng hóa khác nhau, các quan điểm ý kiến cũng là một khuân mẫu của tâm trí tạo ra. "Tôi đúng " điều đó tất nhiên ám chỉ rẳng, người khác chắc phải sai.

Oprah: Nhưng hãy nói cho tôi biết: Khi chúng ta đang trong hình dạng con người này, chúng ta cần bản ngã, nếu không chúng không tiến hóa.

Eckhart: Chúng ta đang tiến hóa thoát khỏi hiện tại. Cái bản ngã đã tồn tại ở đây hàng ngàn năm, và điều đó nghĩa là nó có vị trí của nó trong sự phát triển của nhân loại. Nhưng khả năng suy nghĩ của chúng ta càng ngày nhiều hơn và nhiều hơn nữa, dần dần chúng ta trở nên đồng hóa với những suy nghĩ, và đó là cách chúng ta mất đi sự một sự kết nối sâu sắc hơn với cuộc sống với thiên đường. Tôi tin rằng chúng ta đang ở một giải đoạn chuyển đổi quá trình tiến hóa so với trước đây, có thể vượt qua bản ngã vào một trạng thái mới của tỉnh thức.

Oprah: Ông đã nói rằng chúng ta phải đối mặt rất khắc nghiệt và khó khăn lựa chọn giữa, phát triển hay hủy hoại.

Eckhart: Đây là mấu chốt của sự tiến hóa tỉnh thức, sự tỉnh thức của nhân loại, không còn là một cái gì xa xỉ. Những tác động rối loạn do bản ngã tạo ra đang được khuếch đại bởi thời đại công nghệ cao. Những gì chúng ta đang làm cho chính chúng ta, cho đồng loại của chúng ta, và cho hành tinh này ngày càng trở nên tiêu cực hơn và tàn phá hơn.

Oprah: Đúng thế. Tôi đã có một cuộc trò chuyện với nhà triết học Elie Wiesel, và ông đã nói rằng điều này sẽ được biết đến như là thế kỷ yếu kém bởi vì khả năng của chúng ta làm cho chúng ta suy yếu, đem đến những thức tồi tệ xấu xa tới người khác. Và ông nói đúng: Bởi vì công nghệ, có những quả bom lớn hơn, đạn dược có thể giết chết từ khoảng cách xa hơn.

Eckhart: Đôi khi người ta hỏi tôi là mọi thứ đang trở nên tốt hơn hay tồi tệ hơn, và câu trả lời của tôi là, tại thời điểm hiện tại, nó bảo gồm cả hai, mọi thứ đang trở nên tốt hơn và cũng tồi tệ hơn. Có hai hướng tồn tại tại thời điểm bây giờ: Một dòng là hướng cũ, không giác ngộ, bản ngã chi phối, hướng này vẫn tiếp tục tồn tại, bạn nhìn thấy nó khi bạn xem tin tức hàng ngày. Một hướng khác là chúng ta ngồi đây bây giờ đang nói chuyện, tôi không nói rằng chúng ta là người đặc biệt, nhưng thực tế là chúng ta đang giải quyết vấn đề này và nhiều người đọc nó và nó có ý nghĩa đối với họ, có nghĩa là có một hướng, đó là hướng của nhân loại tỉnh thức. Cả hai đều tồn tại thời điểm này.

Oprah: Làm thế nào để chúng ta có thể không bị chi phối bởi bản ngã? Tôi biết đó là một quá trình lâu dài, những gì chúng tôi có thể bắt đầu làm từ hôm nay?

Eckhart: Bản ngã không thể tồn tại trong sự tĩnh lặng, tĩnh lặng để đưa bạn vào cuộc sống của bạn. Điều đó không có nghĩa sự tĩnh lặng đó là một cái gì đó có được từ bên ngoài, sự tĩnh lặng đó bên dưới suy nghĩ, tất cả mọi người đã có sẵn sự tĩnh lặng.

Oprah: Vì vậy, ông không cần phải đi đến Hawaii và ngồi trên một đỉnh núi.

Eckhart: Không cần, và bạn không phải làm bất cứ điều gì để tạo ra nó bởi vì nó đã có sẵn ở đó. Hãy quan sát sâu vào chính mình và xem cảm nhận của bạn " về bạn " - bạn tự cảm nhận. Tôi là ai này " là liên quan tới sự tĩnh lặng. Bạn chưa từng cảm nhận bản chất thật của bạn hơn khi bạn tĩnh lặng. Bạn có thể mời gọi sự tĩnh lặng trong cuộc sống của bạn bằng cách hít thởi một vài hơi thở có ý thức nhiều lần trong ngày. Chỉ quan sát hơi thở của bạn thở ra thở vào. Một cách khác là cảm thấy sự sống đang diễn da bên trong cơ thể của bạn. Hãy hỏi, Bạn có cảm nhận được sự sống ở đôi bàn tay của bạn không? Và sau đó bạn hãy cảm nhận nó. Nó rất là vi tế, nhưng nó ở đó. Bạn có cảm nhận được nó ở đôi chân, cẳng chân, cánh tay? Bạn có thể cảm nhận toàn bộ bên bộ bên trong cơ thể của bạn được tràn ngập bởi cảm giác của sự sống, và điều đó có thể giúp bạn như là neo giữ vào sự tĩnh lặng. Điều đó không có nghĩa là bạn thoát hoàn toàn khỏi thế giới bên ngoài. Nó mang lại sự cân bằng trong cuộc sống của bạn giữa sự tĩnh lặng và và có thể giải quyết với mọi việc đang ở đây.

Oprah: Đó là việc tìm kiếm không gian ở giữa.

Eckhart: Đúng vậy. Và bạn cũng có thể trở nhận ra không gian yên lặng ngắn giữa hai suy nghĩ. Khi bạn trở nên có ý thức về điều đó, khi đó không gian tĩnh lặng sẽ trở nên lâu hơn một chút, vì vậy bạn có một khoảng cách dài hơn của sự tĩnh lặng.

Oprah: Nhưng nếu bạn trở nên tĩnh lặng một lúc lâu, khi mà bạn bắt đầu suy nghĩ về nó, bạn sẽ mất không gian tĩnh lặng đó.

Eckhart: Khoảnh khắc bạn nói, "Ồ, hãy nhìn, tôi đang không nghĩ ! " tức là bạn lại bắt đầu nghĩ.

Oprah: Ống có ý gì khi ông viết trong cuốn Sức mạnh của tĩnh lặng "Hãy nhìn vào một cái cây, một bông hoa, cỏ cây, xem sự tĩnh lặng của chúng như thế nào, cách chúng tồn tại. Thiên nhiên chỉ dạy cho bạn sự tĩnh lặng "?

Eckhart: Khi bạn xem một cái cây, chỉ cần có sự hiện diện của ý thức nhận ra cái cây. Thiên nhiên là rất hữu ích cho những ai muốn kết nối với sự tĩnh lặng. Con người tạo ra nhiều thứ, nhiều suy nghĩ hơn vì họ thực hiện thông qua suy nghĩ. Song hành với thiên nhiên. Tới khi nào đó bạn có thể duy trì trạng thái của sự tĩnh lặng thậm chí khi bạn sống giữa một thành phố. Tôi thích đi bộ dọc theo đường phố bận rộn với tiếng ồn như địa ngục và người dân vội vã và cảm nhận được sự sâu lắng của tĩnh lặng bên dưới.

Oprah: Điều đó giống như là ở trong thế giới, nhưng thực ra lại không phải.

Eckhart: Đó chính xác là những gì về nó.

Oprah: Ông đã nói rằng tâm linh không có gì để làm với với những điều bạn tin, tất cả mọi việc làm đó chỉ để tìm lại trạng thái tỉnh thức.

Eckhart: Đó là sự tĩnh lặng, đó là chiều không gian tâm linh.

Oprah: Và niềm tin không phải là tâm linh?

Eckhart: Không, bởi vì niềm tin là những suy nghĩ. Suy nghĩ bản thân nó là không phải là tâm linh, mặc dù đôi khi nó có thể hữu ích vì nó có thể là một sự chỉ hướng. Nếu chúng ta nói, " Tìm sự tĩnh lặng, nó đã có sẵn bên trong bạn ", đó là một suy nghĩ, nhưng suy nghĩ là bên ngoài của sự tĩnh lặng.

Oprah: Đoạn cuối của cuốn sách Thế giới mới ông nói rằng nền tảng cho một thế giới mới là một thiên đường mới, sự tỉnh thức.

Eckhart: Đúng vậy. Đó là một điều tuyệt vời. Chúa Giêsu đã nói, "Thiên đường không đi cùng với những gì quan sát được. Nó đã có sẵn trong bạn. "

Oprah: Sự tĩnh lặng.

Eckhart: Đúng vậy.

Oprah: Ông có nghĩ rằng sẽ không bao giờ có cuộc sống hòa bình trong thời hiện nay, hay là có quá nhiều mục tiêu cao cả?

Eckhart: Thay vì câu hỏi bao giờ có được tự do, bởi vì " bao giờ " là một khoảng thời gian trong tương lai, hãy hỏi xem bạn có thể được tự do tại thời điểm hiện tại. Nơi duy nhất mà bạn có thể hoặc là cần phải tự do ngay bây giờ. Không phải là phần còn lại của cuộc đời bạn. Ngay bây giờ.


By Oprah, O MAGAZINE


https://www.eckharttolle.com/article/Eckhart-Tolle-Oprah-Winfrey-O-Magazine-Interview

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Ngọn lửa sân & Vẻ đẹp của… cơn sân


Thầy có nói: Khi mình sân thì mình đã đốt cháy cả một rừng công đức. Con vẫn chưa hiểu câu này, con cứ tự hỏi vì sao sân lại đốt cháy cả rừng công đức được...
 Kính xin Thầy chỉ dạy.


- Đức Phật nói điều thiện khó làm, điều ác dễ làm, giống như trồng được một rừng cây thì thật là khó mà chỉ vứt một tàn thuốc bất cẩn thôi cũng đủ thiêu rụi cả khu rừng. Con làm bao nhiêu điều lợi lạc cho nhiều người, nhưng đến khi con chỉ làm mất lòng họ thôi thì họ chỉ ghi khắc trong lòng sự tổn thương của họ và liền quên hết những gì con đã làm cho họ. Thói đời vong ân bạc nghĩa là chuyện thường tình. Devadatta hẳn phải tu hành biết bao nhiêu kiếp mới đắc được thiền định, thần thông thế mà chỉ sân lên vì không đạt được tham vọng của mình đã tự đẩy mình xuống địa ngục A-tỳ, như vậy không phải là đã thiêu hết cả rừng công đức hay sao? Nhưng con đừng lo, hễ còn mầm giống thiện thì sẽ đâm chồi nảy lộc lại thôi.



Giờ thì con đã hiểu rõ câu "Khi sân thì mình đã tự đốt cháy cả rừng công đức". Vì mỗi khi tâm sân nổi lên, con chỉ quan sát nó để thấy ra những tác hại của nó chứ con không bị nó chiếm ngự hoàn toàn đến mức phát ra hành động một cách mất kiểm soát nên con đã không hiểu rõ câu đó.
Con thành kính tri ân Thầy, người Thầy, người Cha tinh thần của con.

- Cũng cần phải nói thêm là có
 hai loại công đức: Một là công đức do tạo tác mà thành thì hữu vi hữu ngã. Công đức này có thể bị thiêu hủy dễ dàng bởi những ngọn lửa bất thiện. Hai là công đức vốn đã đầy đủ trong tự tánh thì vô vi vô ngã, nên bất thiện pháp chỉ có thể che mờ chứ không thể nào thiêu hủy được. 

Nguồn: Trung Tâm Hộ Tông


 Vẻ đẹp của… cơn giận

Nguyên lý để chuyển hóa tham sân si chính là khả năng sống tỉnh thức của bạn trong mỗi giây phút hiện tại.
Là một con người phàm trần, khi đối diện với những việc trái ý nghịch lòng ta thường phản ứng bực tức giận hờn dù ít hay nhiều đó là lẽ đương nhiên. Và mỗi khi cơn giận hiện hữu dâng trào thì gây tổn hại thân tâm nghiêm trọng, tạo ra năng lượng bất an và ảnh hưởng xấu đến cho những người chung quanh. Tuy nhiên, giận chỉ là trạng thái tâm lý ẩn hiện nhất thời, nếu ta có sự trầm tĩnh và sáng suốt để nhận diện quá trình hình thành cùng diễn biến của chúng thì sẽ khám phá ra được vô vàn cái hay cái đẹp từ cơn giận, nỗi buồn.

Giận là thái độ bất bình với những gì không đáp ứng nhu cầu mà “cái tôi” mong muốn sở hữu. Giận được hình thành là do nhiều yếu tố kết hợp lại, trong đó tâm ý ta đóng vai trò chủ đạo. Nếu ai đó cho rằng cơn giận, nỗi buồn có mặt là do các điều kiện khách quan bên ngoài mang lại, chứ không phải tự thân của mình tạo ra thì sự nhận định ấy quá sai lầm. Bởi trong chuỗi vận hành tự nhiên của các pháp, nếu không có cái tôi hay bản ngã xen vào chọn lựa, ưa thích thì cái gì giận và giận ai?
Nếu nhìn cho kỹ ta sẽ thấy rằng, cơn giận, nỗi buồn, niềm cô đơn trống vắng, v.v… chỉ xuất hiện cùng lúc và gắn liền với cái tôi tham vọng cầu toàn. Vì bản chất của cái tôi là luôn luôn mong muốn đạt được điều như ý nên khi gặp phải những điều bất như ý xảy ra thì cơn giận, nỗi buồn tức thời biểu hiện. Ai cũng biết rằng, tức giận là làm khổ mình và hại người, nhưng vẫn cứ giận. Có lẽ vì thói quen giận hờn đã được huân tập từ nhiều kiếp lâu xa, nên giờ đây, bất cứ ai cũng đều cưu mang hạt giống giận hờn, trách móc, buồn tủi… Có người chỉ giận một chút thoáng qua rồi thôi, nhưng có không ít người bị cơn giận hoành hành sai sử đến hết ngày này qua tháng khác cũng vẫn chưa nguôi. Bởi gốc rễ của nó chính là một trong ba yếu tố căn bản của tam độc tham sân si, có khả năng hình thành nghiệp quả xấu ác và dẫn dắt chúng ta luân hồi sinh tử khổ đau, do đó cơn giận được ví như đốm lửa nhỏ nhưng có thể thiêu hủy nguyên cả một khu rừng to lớn.
Thực tế cho thấy, mỗi khi cơn giận biểu hiện thì hơi thở trở nên hổn hển, mạch tim co bóp không đều, khuôn mặt biến dạng tái nhạt hoặc đỏ thẫm, các tế bào co rúm lại vì máu huyết không được lưu thông bình thường. Và khi các tĩnh mạch bị tắc nghẽn thì chắc chắn sẽ sinh ra nhiều chứng bệnh khá nguy hại, thậm chí dẫn đến tình trạng bị đột quỵ tại chỗ. Mặt khác, đặc tính của cơn giận có công năng phá vỡ các mối quan hệ tình nghĩa thủy chung giữa vợ đối với chồng, cha mẹ và con cái, anh em, bạn bè, v.v… tạo ra sự ngăn cách chia lìa, và dĩ nhiên bao nhiêu nỗi thống khổ cũng từ đây mà hiện hữu. Có nhiều lúc, sau những lần sân si với người thân trong gia đình, ta vô cùng hối hận vì không đủ sự bình tĩnh để kiềm chế và làm chủ cơn giận. Và ta hứa với lòng mình rằng, sẽ không bao giờ lặp lại hành vi khờ dại ấy! Thế nhưng, có lẽ do “ngựa quen đường cũ”, cơn giận đã được ăn sâu vào trong tiềm thức, nên giờ đây chỉ cần ai đó nói một câu không mấy dễ thương, thì cơn giận biểu hiện một cách nhanh chóng mà tâm ý chưa kịp thời soi sáng và thẩm định.
Có những người biết sử dụng một số biện pháp để khắc phục cơn giận như là: uống nước thật nhiều, tập thể dục cho kiệt sức nhằm tiêu hao bớt năng lượng, hoặc đi du lịch đâu đó vài ba hôm để giải trừ cơn giận, v.v… Các phương pháp này tuy có phần lợi ích nhưng chưa thể hóa giải tận gốc rễ nỗi khổ niềm đau, mà chỉ chế ngự tạm thời như lấy đá đè lên cỏ, nếu ta bỏ hòn đá ra cỏ sẽ mọc lên lại. Vì vậy, nên khi họ trở về đối diện với hoàn cảnh thực tế, thì các mối quan hệ thâm tình của họ vẫn chưa thể truyền thông và gắn kết đúng mức như cái đẹp ở thủa ban đầu!
Thực ra, trong mỗi chúng ta đã sẵn có khả năng chuyển hóa tham sân si, không cần phải đi tìm kiếm ở đâu xa cả. Đơn giản, chỉ cần bạn trở về có mặt trọn vẹn với chính mình trong mỗi phút giây hiện tại. Khi đi biết mình đang đi, ngồi xuống biết rõ mình đang ngồi xuống, ăn cơm, uống nước bạn cũng quan sát y như thế thì đến lúc có những khó khăn ngang trái ập tới bạn vẫn giữ được sự bình thản và tự tại để tiếp nhận, mà không tránh né, chống cự hay loại trừ bất cứ điều gì.
Thực chất, các pháp đến và đi, sinh hay diệt đều luôn luôn vận hành đúng theo tiến trình tự nhiên của nó để hình thành nên cuộc sống, không có cái gì xấu xa hoặc gây trở ngại cho bạn cả. Chỉ vì bạn muốn chọn lựa hình ảnh, âm thanh, hoàn cảnh cho thật tốt đẹp nên mới tạo ra mối quan hệ, quy ước theo chủ trương tham vọng cầu toàn và cuối cùng bạn bị đóng khung, cô lập đối với cuộc đời. Nếu giả sử có những điều vô lý xảy ra với bạn chăng nữa, thì chính sự kiện ấy là bài học thiết thực nhất để giúp bạn hoàn thành công trình khám phá bản ngã, bởi vì giác ngộ giải thoát chỉ tìm thấy trong cái tôi tham ái và chấp thủ.
Nếu bạn thông suốt được đạo lý này, thì những khó khăn trắc trở xảy ra kể cả cơn giận, nỗi buồn đều là vẻ đẹp tuyệt vời đối với bạn! Bởi vì, vẻ đẹp chỉ xuất hiện khi tâm hồn của bạn hoàn toàn rỗng lặng và trong sáng. Đơn cử, bạn đang đứng trước một vườn hoa, đáng lý ra bạn cần phải có mặt trọn vẹn với những bông hoa tươi thắm ấy để tận hưởng các vẻ đẹp tinh túy của nó, nhưng không phải như thế, ý niệm chọn lựa ưa thích len lỏi xen vào cắt xén hiện thực thành từng mảnh, và dĩ nhiên, thái độ tham đắm ấy sẽ làm mất đi tính tự do và trung thực, khiến cho cái nhìn của bạn về đóa hoa không còn đẹp đẽ tự nhiên và nguyên vẹn như chính nó! Hầu hết chúng ta thường rơi vào trường hợp mê lầm này, nên cứ mãi chạy đi tìm kiếm hạnh phúc trong ảo mộng xa vời! Trong khi đó, bản chất của cuộc sống vốn có cả hai mặt âm và dương, nóng và lạnh, sáng và tối… mặt nào cũng có cái hay của nó, vậy cớ sao bạn lại chọn lấy một mặt? Chẳng khác gì bạn có một chậu cây cảnh xanh tươi, đẹp đẽ nhưng bạn chỉ ưa thích vẻ đẹp của bông hoa thơm ngát ở phía trên, mà không cần phân rác nhơ nhớp ở phần dưới thì đâu có được! Vì bạn cắt bỏ phần gốc rễ nhơ nhớp ở phía dưới, thì vài hôm sau đó bông hoa xinh đẹp kia cũng sẽ biến thành rác rến.
Thiết nghĩ, nếu trong đời sống hàng ngày, chúng ta biết quan sát về sự thật vô thường biến đổi này thì những oan trái, tủi nhục xảy đến với chúng ta chẳng khác gì một cơn gió mát thoảng qua, không có gì khiến cho ta phải bận tâm lo lắng. Cuộc sống vốn luôn luôn trôi chảy như một dòng sông, không ai có thể nắm bắt hoặc sở hữu bất cứ điều gì dành riêng cho mình cả. Nếu một ai đó cứ mãi mong cầu để đạt được điều như ý, thì người ấy sẽ không bao giờ tìm ra được hạnh phúc chân thực!
Nguyên lý để chuyển hóa tham sân si chính là khả năng sống tỉnh thức của bạn trong mỗi giây phút hiện tại. Mọi động dụng của cơ thể khi đi đứng, lúc nằm ngồi, lái xe, tắm giặt, ăn cơm, uống trà, chải tóc, v.v… bạn cần phải nhận biết trọn vẹn với thái độ khách quan và trung thực như chính nó đang là. Không khởi tâm dụng công thêm thắt, thêu dệt hoặc phải rập khuôn theo một mẫu lý tưởng nhất định nào cả. Bởi mỗi người đều có căn cơ và mệnh nghiệp khác nhau nên cách hành trì cũng phải linh động uyển chuyển để khế hợp với chân lý thực tại. Nếu bạn nôn nóng đi tìm phương cách để khử trừ cơn giận thì vô tình chính thái độ ấy lại càng tạo thêm phiền muộn rối ren. Chỉ có cái tâm thư giãn buông xả hoàn toàn, bạn mới dễ dàng ung dung tự tại để giáp mặt với mọi biến cố xảy ra, như đang thưởng thức một khúc nhạc du dương êm đềm, hoặc đang ngắm nhìn vẻ đẹp tự nhiên của đất trời, sông núi. Và đây cũng chính là công phu tu tập đích thực của những người học đạo giải thoát, bước đi tự tại trên con đường mà Đức Thế Tôn đã đi qua.

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Thông minh có tạo nên cá tính của con người không?



- Chúng ta định nghĩa thế nào là "cá tính"? Và thế nào là "thông minh"? Tất cả các chính trị gia -- dù ngay đến những nhà chính trị chuyên nghiệp đa dạng ở nơi đô thị Delhi hay chỉ là những chính trị gia tay mơ huênh hoang khoác lác ở địa phương khỉ ho cò gáy -- cũng luôn luôn viện dẫn đến những từ ngữ nào là "cá tính", "lý tưởng", "thông minh", "tôn giáo", "Thượng Đế". Chúng ta lắng nghe những từ ngữ này một cách say mê, sùng mộ, bởi vì chúng có vẻ như là rất quan trọng. Phần lớn chúng ta sống với chữ nghĩa; và chữ nghĩa càng được trau chuốt công phu, gọt giũa cho thật là sắc sảo bao nhiêu thì chúng ta càng thấy thích thú, thỏa mãn bấy nhiêu.

Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu coi chúng ta định nghĩa "thông minh" và "cá tính" như thế nào. Đừng nói là tôi đã không trả lời các bạn một cách rõ ràng, xác định. Moi ra ngay những định nghĩa, những kết luận, là một trong những trò kỹ xảo của bộ óc, có nghĩa là bạn không muốn tìm tòi, nghiên cứu, để hiểu cho thấu đáo, mà chỉ muốn đuổi theo lời nói mà thôi.
Thông minh là gì? Nếu một người có thói sợ sệt, lo lắng, ghen tị, tham lam; hoặc là đầu óc chỉ biết rập khuôn, bắt chước, trong tâm chỉ chứa đầy nhóc kinh nghiệm và kiến thức của người khác; nếu tư tưởng của hắn bị hạn chế, bị xã hội, môi trường sống nhồi ép vào khuôn khổ -- người như thế có thông minh không? Hắn không thông minh, phải vậy không? Và có thể nào một người sợ sệt, không thông minh, lại có được cá tính -- cá tính là cái gì thuộc về sáng tạo, không phải chỉ như những cái máy nhắc lại điệp khúc của truyền thống về những điều phải làm hoặc không làm. Cá tính có đáng kính trọng không?
Bạn có hiểu câu "đáng kính trọng" nghĩa là gì không?
Bạn là người đáng kính nếu bạn được nhiều người chung quanh ngưỡng mộ, kính trọng. Và cái gì làm cho số đông kính trọng -- người trong gia đình và quần chúng? Họ kính trọng những điều mà chính họ thèm muốn và đã ấp ủ trong tâm như là mục tiêu hoặc lý tưởng của họ. Họ kính trọng cái sự kiện cao vời tương phản với cảnh đời thấp thỏi của chính bản thân họ. Nếu bạn giầu và có quyền thế, hay bạn là chính trị gia tên tuổi, hoặc đã viết nhiều cuốn sách nổi tiếng, như thế bạn sẽ được đám đông kính trọng. Khi đó thì dù điều bạn nói ra có thể hoàn toàn vô nghĩa, ấy thế mà cứ hễ bạn phát biểu là thiên hạ lắng nghe, bởi vì họ đã coi bạn như là một vĩ nhân. Và khi mà bạn đã chiếm được lòng kính trọng của nhiều người, được đám đông ủng hộ, tự nhiên bạn thấy mình là người đáng kính, có cảm giác mình đã thành đạt. Nhưng cái "kẻ được-gọi-là có tội" nhiều khi lại gần Thượng Đế hơn "người đáng kính", bởi vì người đáng kính nhiều khi lại mang thói đạo đức giả.
Cá tính có phải là kết quả của sự bắt chước, có phải là bị chi phối bởi sự sợ sệt về những điều người ta sẽ nói hoặc sẽ không nói chăng? Cá tính có phải chỉ là sự làm tăng trưởng thói thiên vị, thành kiến của chính bản thân chăng? Cá tính có phải là một hình thức duy trì truyền thống, dù là ở Ấn Độ, Âu Châu hay là Hoa Kỳ chăng? Đó là những trường hợp mà thông thường người ta gọi là "có cá tính" -- là một người mạnh mẽ, nhiệt thành ủng hộ những truyền thống của địa phương và được nhiều người kính trọng.
Nhưng khi bạn đã có thói thành kiến, bắt chước, bị các tập tục truyền thống cản trở, hoặc sợ sệt, thì bạn có thông minh, có cá tính không? Sự bắt chước, sự hùa theo, sự lễ lạy xin xỏ, có lý tưởng -- đó là cung cách dẫn đến sự đáng được kính trọng, nhưng không đưa tới sự cảm thông. Một người có lý tưởng là người đáng kính, nhưng anh ta sẽ không thể gần Thượng Đế, vì anh ta sẽ không bao giờ biết thương yêu là gì, bởi vì lý tưởng của anh ta là một cách che giấu sự sợ hãi, sự bắt chước, sự cô đơn của anh ta.
Cho nên, nếu không tự hiểu thấu đáo về mình, không nhận thức rõ tất cả những vận hành của bộ óc -- bạn suy nghĩ ra sao, bạn đang rập khuôn, đang bắt chước, hay đang sợ hãi, đang tìm cầu thế lực --, như thế không thể là thông minh. Và chính sự thông minh tạo nên cá tính con người, không phải là sự tôn thờ thần tượng hay đuổi theo một lý tưởng.
Thấu hiểu chính mình, chính cái con người phức tạp đặc biệt của mình, là khởi đầu của sự thông minh, nó sẽ bộc lộ cá tính.

Krishnamurti -- Life Ahead
Danny Việt dịch

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

ĐÀM ĐẠO VỚI THIỀN SƯ AJAHN SUMEDHO

Roger Wheeler: Điều gì thu hút ngài đến với Phật giáo? Theo ngài, Phật giáo đã cống hiến những gì?

Ajahn Sumedho:
Con đường giải thoát.

Wheeler:
Ngài cũng đã từng tu tập vài pháp môn phải không?

Sumedho: Có một thời tôi hoàn toàn một con chiên ngoan đạo của Chúa Giê-su, nhưng sau đó tôi đoạn tuyệt với Thiên Chúa giáo, chủ yếu là do tôi không hiểu được giáo lý và không thể tìm được bất cứ ai có thể giúp tôi thấu hiểu nó. Dường như không có bất cứ phương pháp tu tập nào trong Thiên Chúa giáo, khác hơn là niềm tin đơn giản hoặc sự chấp nhận mù quáng những gì đã được rao giảng.
Điều gây ấn tượng nhất cho tôi đó là Phật giáo này không đòi hỏi người ta tin tưởng một cách đơn thuần.

Đó là một cách thức giúp người ta thoát khỏi sự hoài nghi. Nó cống hiến một phương pháp thực tiễn phát hiện chân lý thông qua kinh nghiệm bản thân, tốt hơn thông qua sự chấp nhận giảng dạy của người khác. Tôi nhận ra rằng đây là phương cách tôi phải thực hiện, bởi vì đó là bản chất của tôi: ưa hoài nghi và chất vấn, hơn là có niềm tin. Do đó, những tôn giáo yêu cầu người ta chấp nhận bằng đức tin là không thể được. Tôi không thể nào ngay cả sự khởi lên tiếp cận chúng.
Khi tôi hiểu được Phật giáo, nó giống như một sự soi sáng cho tôi, bởi vì tôi đã thấy rằng những khuynh hướng tôn giáo của một người có thể được đáp ứng bằng cách này. Trước đây, tôi cảm thấy buồn phiền trong một sự kiện rằng tôi đã biết thế giới vật chất không làm cho tôi hài lòng; và tuy tôn giáo mà tôi được nuôi dưỡng bằng sự dâng hiến, đã không đem lại một pháp tu nào khác hơn là đức tin mù quáng.
Phật giáo thật sự là một điều khám phá đầy lý thú.

(Tiếp đến Ajahn Sumedho đề cập đến việc ngài có những nguồn cảm hứng do những cuốn sách của thiền sư Suzuki, và đã gặp gỡ được Phật giáo ở Nhật Bản trong lúc tham gia vào lực lượng Hải Quân Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên).

Wheeler: Sau khi kết thúc sự phục vụ trong lực lượng Hải quân, ngài lưu lại California hay quay trở lại Châu Á?

Sumedho: Sau khi rời Hải quân, tôi đi học lại ở Trường Đại học để hoàn tất bằng cử nhân (B.A) về môn Nghiên Cứu vùng Viễn Đông. Rồi ghi danh ở đại học California ở Berkeley lấy bằng M.A về môn Nghiên cứu Á Châu. Khi tôi hoàn tất chương trình học này vào năm 1963, tôi tham gia vào Tổ chức Hòa Bình.

Wheeler: Điều nào thu hút Ngài đến Thái Lan hơn là Nhật Bản, ví dụ những lời giáo huấn của Suzuki xuất phát từ đâu?

Sumedho: À, tôi đã sống một nơi thuộc về thế giới này. Tôi cũng nhớ đến những mùa đông lạnh giá của xứ sở Nhật Bản. Bởi vì Thái Lan có một khí hậu nắng ấm ôn hòa, tôi cảm thấy rằng mình cũng tìm được điều gì đó mà thời tiết đã dành cho tôi, vì tôi sợ phải sống suốt những mùa đông băng giá.

Wheeler: Có phải ngài đã đi thẳng đến Tu Viện của thiền sự Ajahn Chah?

Sumedho: Không, đầu tiên tôi đến Bangkok, ở đó, tôi hành thiền với tư cách là một cư sĩ. Vào buổi sáng tôi dạy Anh ngữ ở đại học Thammasat và buổi tối bắt đầu tu tập thiền.
Rồi sau đó tôi quyết định xuất gia, nhưng tôi không muốn sống ở Bangkok. Trong khi tôi đi nghỉ hè ở Lào, tôi gặp gỡ một nhà sư Canada. Ông ta góp ý rằng tôi có thể xuất gia ở một thành phố nhỏ của Thái Lan, nằm ngang bờ sông Mekong. Vì thế, tôi nghe theo lời khuyên của ông ta và xin xuất gia ở một ngôi chùa ở Nong Khai.
Vào năm đó, cơ bản là tôi tự mình tu tập, không có vị thầy nào hướng dẫn. Năm sau, tôi gặp một môn đồ của thiền sư Ajahn Chah. Ông ta là một nhà sư Thái biết nói tiếng Anh, và rồi ông ta đưa tôi đến gặp thiền sư Ajahn Chah. Tôi lưu lại tu viện của ngài Ajahn Chah gần 10 năm.

Wheeler: Ngài đề cập rằng chính khía cạnh hoài nghi của Phật giáo đã thu hút ngài. Người ta có thể hoài nghi. Chính điều này thường xảy ra với những người bị thu hút đến với truyền thống Phật giáo Tây Tạng do bởi nhân cách hoặc trí tuệ của người thầy. Có phải những vị thiền sư có vai trò quan trọng như thế trong truyền thống Nguyên Thủy?

Sumedho: Không. Họ cố gắng giảm bớt việc đặt nặng vấn đề này, tuy vậy, người ta thường bị các thiền sư thu hút. Đây là điều rất tự nhiên. Tuy vậy, chính giới luật đã được đặt ra để điều này ngăn tô điểm thêm cho vị thầy. Một người tuân giữ giới luật bằng thái độ tôn kính và hành động bi mẫn đến bất cứ vị thầy nào hoặc bất cứ ai.
Thật sự tôi không đi tìm kiếm một vị thầy. Tôi không cảm thấy cần có một vị thầy đặc biệt. Tuy vậy tôi có lòng tin vào giáo pháp của Đức Phật. Khi tôi gặp ngài Ajahn Chah, lòng tin của tôi lại càng gia tăng, khi tôi nhận ra được ngài thật là một người thông thái. Trước hết là tôi yêu mến ngài, nhưng tôi không cảm thấy mộ đạo. Tuy vậy, tôi đã lưu lại nơi này... và tôi thật sự không hiểu được lý do, bởi vì nơi này có nhiều điều tôi không thích lắm. Tuy thế, dường như tôi lại ở đây - đến 10 năm chứ!

Wheeler: Ngài Ajahn Chah thường dạy dỗ các môn đồ của mình ra sao?

Sumedho: Ngài Ajahn Chah thành lập tu viện để đem lại cơ hội cho mọi người muốn xuất gia và tu tập thiền Phật giáo. Như vậy, điều chính yếu ngài đem lại là một nơi tu tập, một môi trường dẫn dắt.
Bản thân giáo lý chỉ là giáo lý truyền thống Phật giáo về Tứ Diệu Đế. Ngài triệt để tôn trọng Giới Luật (Vinaya) - quy tắc về các luật lệ tu tập do đức Phật đặt ra và có ghi trong Kinh Tạng Pali. Một phần của sự hòa hợp để sống nơi đây, đó là các nhà sư thích nghi cách cư xử của họ đối giới luật truyền thống.
Tôi cảm thấy đó là điều tôi rất cần. Đó là một cơ hội để sống theo quy ước thuộc giới luật truyền thống. Bản thân tôi rất tùy tiện, buông thả và tôi nhận ra rằng đó là sự yếu đuối quá lớn lao trong bản chất của tôi. Tôi bực bội với quyền lực, và không biết cách nào để thích nghi với giới luật. Vì thế tôi hết sức hài lòng có cơ hội để thực hiện điều này. Nó là một sự thử thách tốt đẹp đối với bản thân tôi và tôi biết rằng điều đó tôi cần phải làm. Nơi tôi vẫn còn nhiều ngã mạn, tôi muốn sống theo ý riêng của mình. Ngài Ajahn Chah rất nghiêm khắc, chúng tôi phải sống theo những điều kiện mà tu viện đặt ra. Tôi học tập để thực hành giới luật ở nơi đây.
Ngài Ajahn Chah không nhấn mạnh phương pháp. Ngài chỉ nhấn mạnh sự tỉnh giác suốt ngày đêm, giữ chánh niệm và theo dõi sự vô thường của các điều kiện như là người ta cảm nhận về cuộc sống.
Suốt năm đầu tiên trong khi sống ở Bangkok, tôi hành thiền một mình. Bởi vì tôi hiểu được kỹ thuật thiền, nên khi tôi đặt chân đến tu viện Wat Pah Pong, ngài Ajahn Chah chỉ khuyến khích tiếp tục thực hành những gì tôi đã từng học hỏi ở Bangkok. Ngài không đòi hỏi tôi thích nghi cách ăn ở của mình ở bất cứ hình thức đặc biệt hoặc kỹ thuật khác, ngoài giới luật (vinaya) của các nhà sư.
Tôi xin đọc cho ông nghe một vài điều về truyền thống Krishnammti. Ông ta nói:
"Dời quá khứ đến hiện tại, giải thích hoạt động của hiện tại dưới dạng quá khứ là hủy hoại vẻ đẹp sống động của hiện tại. Truyền thống dù cổ hay tân cũng không phải là bất khả xâm phạm. Một đầu óc chứa nặng những ký ức về quá khứ, mà quá khứ là truyền thống - và không dám buông bỏ, là vì đầu óc đó không có khả năng đương đầu với những điều mới lạ. Truyền thống trở thành sự an toàn của chúng ta, và khi tâm an toàn là tâm đang ở trong tình trạng suy nhược. Người ta phải lên đường nhẹ nhàng, không vướng bận, không cần chút nỗ lực nào cả, và cũng không bao giờ dừng lại ở bất cứ đền thờ nào, bất cứ đài kỷ niệm nào, hoặc vì bất cứ vị anh hùng nào, xã hội hay tôn giáo nào. Hãy lên đường một mình với vẻ đẹp và tình yêu thương." [1]

Wheeler: Bây giờ sự hiện diện của ngài ở đây là một sự thể hiện rõ ràng về sự nối tiếp một truyền thống đã và đang tiếp diễn hơn 2500 năm. Về lời trích dẫn này. Tôi tự hỏi liệu người ta cũng có thể bị dính mắc trong hình thức, quên mất đi mục đích theo đuổi? Hoặc nói cách khác, làm cách nào người ta có thể tránh được sự chấp thủ hình thức?

Sumedho: À, nó giống như việc lái một chiếc xe. Người ta có thể gạt bỏ đi tập quán sử dụng xe hơi, và nói "Tôi sẽ không lệ thuộc vào điều này bởi vì nó xuất phát từ quá khứ. Vì thế tôi sẽ đi bộ đến thành phố New York"; hoặc, "Tôi sẽ tự mình phát minh một chiếc xe, bởi vì tôi không muốn sao chép của một người nào khác". Điều mấu chốt nói về chiếc xe được sử dụng thì không nhiều lắm, nhưng vấn đề là việc đến được New York. Dù người ta đi chậm hay nhanh, người ta nên dùng những gì đã có sẵn, bất cứ phương tiện gì mà người ấy có thể tìm thấy ở chung quanh mình. Nếu không có, hãy sáng chế một cái, hoặc đi bộ. Người ta phải làm hết khả năng của mình nếu có thể được. Nhưng nếu có một điều gì gần gũi, tại sao không học hỏi để sử dụng nó -- nhất là nó vẫn còn có thể hoạt động được?
Vì vậy truyền thống là như thế đó. Nó không phải là sự bám víu. Người ta cũng có thể bám víu vào tư tưởng mà người đó không cần đến truyền thống, nó chỉ là một khái niệm hoặc một quan điểm khác. Những lời trích dẫn như thế này là nguồn cảm hứng, nhưng chúng không phải luôn luôn hết sức thực tiễn, bởi vì người ta có thể tạo nên quan điểm khác mà những truyền thống bị sai lệch hoặc có hại như ông thấy. Vấn đề không nằm trong truyền thống, nhưng lại nằm trong sự bám víu, chấp thủ. Thân xác này là một hình thức quy ước đến từ quá khứ. Ngôn ngữ chúng ta dùng, thế giới chúng ta sinh sống, và những xã hội mà chúng ta góp phần, tất cả là những hình thức qui ước được sản sinh ra từ quá khứ. Chúng ta đang ở trong một thế giới quy ước. Chúng ta không đặt thành vấn đề việc nương dựa vào những quy ước, nhưng học cách sử dụng chúng một cách thiện xảo. Chúng ta có thể dùng ngôn ngữ để tán gẫu, dối trá, và trở thành những diễn giả làm cho người ta mê muội; chúng ta có thể trở thành những người cầu toàn với lời lẽ dao to búa lớn. Điều quan trọng là người ta phải hiểu rằng ngôn ngữ dùng để giao tiếp, truyền đạt. Khi tôi truyền đạt điều gì đó cho anh, tôi đây cố gắng trình bày càng rõ ràng và thẳng thắn càng tốt. Đó là một kỹ năng. Nhưng nếu lưỡi của tôi bị cắt đi, tôi sẽ chỉ học hỏi để sống mà không có lời nói - vấn đề là như vậy. Sự việc này sẽ không phải là một nỗi muộn phiền lớn lao, nhưng có một chút bất tiện - đối với một đôi điều; nhưng có thể thuận lợi đối với nhiều điều khác.
Những truyền thống tôn giáo chỉ là những quy ước có thể được người ta dùng hoặc không, tùy theo thời gian và nơi chốn. Nếu một người biết sử dụng truyền thống, người này có nhiều thuận lợi hơn người không biết, họ cho rằng đó là những điều làm mất thời giờ vô ích. Một người có thể đến nhà thờ Thiên Chúa giáo, đến ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy, hoặc một giáo đường Do Thái, và tôn kính, cảm xúc theo một quy ước mà người ấy tự mình khám phá, không có cảm nghĩ rằng nó xấu xa hay sai trái. Điều này không tùy thuộc chúng ta quyết định: tất cả chúng đều dựa trên cơ bản làm điều thiện, tránh xa điều ác. Do đó, nếu ai bám víu vào chúng, sẽ bị chúng trói buộc. Nếu một người xem tôn giáo chỉ là một quy ước, như thế, người này có thể học cách sử dụng nó thích đáng. Tôn giáo là chiếc bè đưa người đó sang sông.

Wheeler: Ngài đề cập rằng những truyền thống có thể sử dụng tùy thuộc thời gian và nơi chốn. Tôi nhận thấy rằng ngài thường đi khất thực vào buổi sáng. Về khía cạnh này, tôi phát hiện điều này thật đáng ca tụng. Mặt khác, tôi tự hỏi loại ảnh hưởng nào tác động đến xã hội không theo đạo Phật? Đối với một người gia trưởng trung lưu, một người mặc y vàng hoặc y đỏ có thể là bất cứ một điều gì đó đối với một thí chủ Hare Krishna, để làm ... bất cứ điều gì.
Truyền thống đang theo, vào thời điểm này, vào nơi chốn này, đang làm hại hơn là lợi phải không? Liệu nó có thể làm xúc phạm những người này không?

Sumedho: Vâng, mục đích là tốt lành, thời điểm là bây giờ, và nơi chốn là ở đây. Một số người sẽ lấy làm khó chịu; một số người khác nhận thấy nó thật tốt đẹp. Ở Anh quốc, điều này khiến cho một số người khó chịu, nhưng đôi lúc người ta cũng cần phải bị khó chịu. Họ cần phải bị lay động một chút, bởi vì người ta có thể tự mãn ở những quốc gia này.
Đi khất thực cũng thu hút những người tốt, những người thích thú điều này. Chúng ta không có ý định gây "sốc" hoặc gây nguy hại. Tôi được che chở một cách khiêm tốn và tôi không lừa họ trong bất cứ mối quan hệ nào, hoặc làm hại họ dưới bất cứ hình thức nào. Ngược lại, việc khất thực nó mang lại cho họ cơ hội để bố thí (dana), nếu họ thật sự sẵn lòng.
Ở Anh quốc, có một điều phải công nhận rằng hầu hết mọi người không hiểu được điều này. Tuy thế đối với tôi, dường như việc đi khất thực là một quy ước tôn giáo đáng được duy trì.
Việc này giống như đem lại chất bồi dưỡng vào tôn giáo lần nữa. Nó thúc đẩy các nhà sư hoạt động trong xã hội.
Khi đức Phật còn là một hoàng tử (trước khi thành đạo), ngài đi ra khỏi cung điện và thấy được 4 vị sứ giả, họ đã thay đổi cuộc đời của ngài. Đầu tiên là một người già, thứ hai là một người bệnh, thứ ba là một tử thi, thứ tư là một nhà sư tham thiền dưới một cội cây. Tôi xem điều này như một thông điệp. Tôi không mang theo nó khắp nơi như là một bổn phận tôi phải thực hiện nó, nhưng chỉ một phần cuộc sống của tôi, cách tôi sống ở đời. Nếu mọi người phản đối và nhận thấy nó sai trái, nếu nó gây khó khăn cho tất cả mọi người, như vậy tôi sẽ không thực hành nó. Tuy vậy điều này đã chưa hề xảy ra.
Nhiều người nghĩ rằng tôi đừng nên đi khất thực trong làng. Họ cho rằng đây là điều ngớ ngẩn. Một số người Anh cũng như những Phật tử đều cảm thấy rằng, chúng tôi nên thích nghi với phong tục nước Anh. Tuy vậy, tôi quyết đi khất thực khi có cơ hội. Tốt hơn là quyết định liệu tôi có nên thích ứng với phong tục của người Anh hay không. Đơn giản là tôi chỉ mang đến một truyền thống và thực hiện nó bằng việc nghe. Do đó tôi cảm thấy nó sẽ diễn ra phù hợp với hình thức của nó. Nếu một người xén bỏ truyền thống ngay trước khi gieo nhân mới, người ấy thường cắt đứt hoặc xem nhẹ toàn bộ tinh thần của truyền thống đó. Toàn bộ truyền thống dựa trên lòng bác ái, nhân từ, sự tốt lành, đạo đức... và tôi không làm điều gì sai trái. Tôi có thể đang thực hiện tốt đẹp những việc mà mọi người không hiểu được...

Wheeler: Trong tâm tôi, và tôi tưởng tượng trong tâm của những người khác cũng vậy, việc đi khất thực dường như là một loại chấp thủ vào hình thức và truyền thống.

Sumedho: Như vậy người đó không có chánh niệm.

Wheeler: Làm thế nào để người ta giữ được tâm tỉnh giác cả ngày lẫn đêm? Trong khi thực hiện những nghi lễ nào đó tụng kinh hoặc đi khất thực, làm thế nào để người ta có thể tránh được trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta lập đi lập lại một cách máy móc?

Sumedho:
Cuộc sống hàng ngày là máy móc và đều đặn. Thân xác là máy móc và đều đặn. Xã hội cũng cùng một cách thế. Tất cả những sự việc pha trộn nhau cứ lập đi lập lại giống nhau. Nhưng tâm của chúng ta không còn bị những thói quen đó đánh lừa nữa.

Wheeler: Krishnamurti nói: "Những người tu hành sống trong tu viện, trong sự cách ly, hoặc đi đến một ngọn núi cao, một nơi vắng vẻ, tâm của họ bị bắt buộc phải thích nghi với một khuôn mẫu đã được đặt để " [2]. Trước đây ngài nói rằng ở tu viện của ngài Ajahn Chah, ngài đang thích nghi với một quyền lực bởi vì ngài đã cảm thấy rằng trước đó ...

Sumedho: Người ta đang thích nghi hành động của mình vào một khuôn mẫu. Sự việc là thế đó.

Wheeler: Đúng vậy, Krishnamurti nói: " Họ đang buộc tâm của họ đi vào một khuôn mẫu. Tâm thật sự thích nghi với một khuôn mẫu đã được đề ra, chứ không chỉ thân xác. Chúng phụ thuộc vào nhau."

Sumedho: Đúng. Đó là sự thực hành Samatha (thiền định): tin vào giáo lý và thấm nhuần vào sự tu tập. Nhưng đấy không phải là mục đích của thiền Phật giáo.

Wheeler: Thiền Samatha hòa hợp với giáo lý chứ?

Sumedho: Nếu một người tin tưởng vào giáo lý, những ý tưởng trong tâm của một người đó sẽ chấp nhận một giáo lý nào đó, và loại bỏ những giáo lý nào không thích hợp. Như vậy cũng có sự tu tậpthiền vắng lặng (samatha), ở đây, người ta rèn luyện tâm tập trung vào một đề mục. Sự tu tập này làm cho tâm yên tĩnh và vững chắc.

Wheeler: Có phải ngài đang gọi nó là "một khuôn mẫu" đã được đặt để?

Sumedho: Đúng. Nhịp thở đầu đều của một người là một khuôn mẫu (nền tảng) mà anh bám vào và chấp thủ nó phải không? Nó đem lại một sự vắng lặng nào đó cho tâm.

Wheeler: Người ấy không được "bám víu" vào hơi thở. Sự thở xảy ra tự nhiên. Người ấy có thể nói rằng mình quan sát hơi thở ...

Sumedho: Người ấy chỉ tập trung vào hơi thở. Vào một khoảnh khắc đặc biệt người ấy hoàn toàn tập trung và không còn để ý đến các đối tượng khác.

Wheeler:
Tôi hoàn toàn không đồng ý. Điều đó như thế nào với cái tâm có thói quen theo một giáo điều?

Sumedho: Bất cứ vật gì cũng là một khuôn mẫu hoặc một điều kiện (sankhara), nếu một người đặt niềm tin vào sankhara đó, người ấy sẽ trở thành sankhara đó. Nếu một người chấp thủ vào bất cứ đối tượng nào, rồi sẽ trở thành đối tượng đó. Như vậy, khi một người đang tập trung vào hơi thở bình thường, rồi người ấy sẽ trở thành hơi thở bình thường đó, Theo tinh thần, hình dáng của một người diễn ra theo hình thức này, một người đồng hóa với đối tượng đó cho đến bao lâu sự tập trung còn hiện hữu.
Sự kiện giống như vậy phù hợp với giáo lý. Chúng là những thế giới của những hình thể (sắc) quy ước và thói quen. Một người có thể được ví như là một đức tin trong ý nghĩ của những người khác, trong những giáo pháp và các tín ngưỡng, trong những điều mà người khác phát biểu.
Chánh niệm là không bám víu. Điều mà Krishnamurti vạch ra là sự tỉnh giác về bản chất biến đổi, cái cách mà vạn vật đích thực hoàn hữu trong một khoảnh khắc. Nhưng ông ta phát biểu quá cao siêu. Hầu hết mọi người, dù cho họ cố suy nghĩ những điều mà ông ta phát biểu, cũng không thể thấu hiểu được.
Đó là những gì mà người ta nhận biết được qua sự từ bỏ. Một người phải đi xuống một vị trí hết sức hèn mọn, điều đó được ngài Ajahn Chah gọi là con giun đất, chỉ là một điều rất đơn giản và không mong đợi được bất cứ kết quả nào. Làm lành, lánh dữ, luôn giữ thân, khẩu, ý, trong chánh niệm

Wheeler: Tại sao các tôn giáo suy thoái?

Sumedho: Bởi vì chúng chỉ là tục đế (sự thật quy ước). Chúng không phải chân đế (sự thật tối thượng).

Wheeler: Nhưng người ta không hành trì. Họ chỉ tu tập một cách máy móc. Khi một vị thầy (thiền sư) hướng dẫn một khóa thiền ở đây, người ta thường nêu lên một câu hỏi Đạo Phật được coi là một tôn giáo hòa bình, và người ta cho rằng chiến tranh chưa bao giờ khởi lên do đạo Phật. Nhưng hãy nhìn vào Tây Tạng và Campuchia, nhiều người đã bị tàn sát. Ở nước Lào, các nhà sư làm việc trên các cánh đồng. Một người đến viếng nhà sư Campuchia, đã nói rằng, về cơ bản, người ta không hành trì, và đó là lý do Phật giáo bị tan rả, là lý do có quá nhiều hỗn loạn.

Sumedho:
À, tại sao thế giới lại như thế? Tại sao họ lại hủy diệt hàng triệu người Campuchia? Người ta có thể suy đoán. Nhưng một điều duy nhất mà người ta có thể biết là những điều kiện về cái tâm của một người - tham, sân và si - là phản ánh về thế gian, cái cách của nó là thế. Thế giới có những vụ thảm sát, chết chóc, bạo ngược và hủy diệt bởi vì chúng ta thực hiện những việc đó suốt trong tâm trí chúng ta.
Ông đã làm gì trước khi xuất gia, hoặc ngay trong khi được xuất gia? Ông đã cố gắng loại trừ nhiều điều ra khỏi tâm của mình phải không? Nếu ông nổi giận, ganh tỵ, có những ý nghĩ bẩn thỉu, ông loại trừ chúng, do bởi anh nghĩ rằng đó là phương cách để giải quyết vấn đề. Một người diệt trừ những điều này vì cho rằng chúng là nhân khổ đau của mình.
Bây giờ hãy áp dụng những điều này cho một quốc gia như Campuchia. Chính quyền Khơme Đỏ cho rằng giai cấp tư sản trung lưu là nhân của khổ - vì thế chánh quyền này tiêu diệt nó. Sự việc diễn ra ở cùng một nguyên tắc.
Giáo lý của Phật giáo là bất bạo động. Người ta không hủy diệt loài gây hại, nhưng còn phải hiểu rằng ngay cả tâm của loài gây hại cũng là vô thường và vô ngã. Chúng sẽ tự mình biến mất.
Nhiều điều mà chúng ta sợ lại thật sự là những người bạn thân thiết của mình - giống như sự tự sợ hãi. Chúng ta lo sợ về cái chưa từng biết, nhưng chính điều không biết là con đường dẫn đến giác ngộ. Không biết là điều mang đến nỗi khiếp sợ cho cuộc sống con người. Nhiều người dành phần lớn cuộc đời để cố gắng tìm sự an toàn ở một số hình này hoặc hình thức khác, do bởi sợ hãi. Nỗi lo sợ đưa đẩy họ trở thành như thế này, hoặc bám víu vào điều khác, dành dụm thật nhiều tiền, đi tìm lạc thú hoặc tìm một nơi an toàn để sống, hoặc tìm kiếm một con người lý tưởng họ hy vọng rằng sẽ giúp họ hạnh phúc mãi mãi. Đó là nỗi sợ hãi cô đơn, sợ điều chưa từng biết - về những gì chúng ta không thể biết. Trong lúc tham thiền, khi người ta có chánh niệm (sự chú tâm), chính sự sợ hãi đó - nhận thấy được chân tướng của nó - đưa chúng ta đến sự bất tử, sự vắng lặng. Tuy thế, nỗi sợ hãi là một cái gì đó mà chúng ta phản ứng rất mạnh mẽ.
Như vậy, nếu một người không thể bình an với những điều làm hại cái tâm của mình, người ấy không thể mong đợi quá nhiều vào một chánh quyền giống như Khờ me Đỏ, hoặc phần lớn các nguyên lý vũ trụ được khá hơn. Chúng ta cũng không có quyền đổ trách nhiệm to tát như vậy cho xã hội. Vạch lỗi của Mỹ, đó là điều dễ làm, - hoặc vạch lỗi của Campuchia hoặc Tây Tạng - do bởi các nhà sư đã không tu tập chuyên cần hoặc người dân Campuchia không phải là những Phật tử thuần thành, điều này thật sự hơi ngớ ngẩn.
Anh sẽ xử sự ra sao về việc này? Đó là điều tôi đang đề cập. Tôi không thể trợ giúp thế giới quan điên rồ của Pol Pot. Cái cách mà hắn ta dự định giải quyết vấn đề thật vô cùng ngu dại. Nhưng tôi cũng đã từng nhận ra chính sự ngu ngốc giống như thế trong bản thân tôi; nỗi ham muốn tiêu diệt điều mà tôi không ưa thích, hoặc điều mà tôi cho là nguyên nhân đau khổ của thế giới, hoặc của bản thân tôi. Đó là nơi người ta có thể thấy được những gì phát sinh ra vấn đề. Người ta có thể nói "Ồ, các nhà sư tu tập không nghiêm túc" nhưng điều này thật sự không công bằng.

(Câu hỏi tiếp không được ghi vào)

Tôi đã từng có một kinh nghiệm rất thuận lợi với thiền sư, Ajahn Chah, và thấy được ngài là người hạnh phúc, khoan dung và hài hòa biết bao. Lẽ dĩ nhiên, có nhiều đệ tử của ngài cũng không hiểu những điều ngài dạy dỗ. Tuy vậy ngài thực sự làm cho nó rõ ràng và mang lại cho họ từng cơ hội để tu tập và khám phá.
Khi người ta nói về dukkha (khổ), (Đế thứ nhất) Khổ Đế, người ta không nói một cách trừu tượng về dukkha - "ngoài dukkha". Dukkha tồn tại như một sự việc vô danh. Tôi đang nói về chính cái cảm giác đó trong một người, ở nơi đây (chỉ về bản thân người ấy), điều này cảm thấy không hoàn toàn hạnh phúc hoặc cảm thấy khó chịu một chút, lo lắng, không hài lòng, không an toàn, hoặc không được thanh thản. Người ấy tự mình cảm nhận được Khổ Đế.
Người ta không chỉ rõ dukkha như một điều mơ hồ nào đó đang lơ lửng khắp thế gian. Nếu một người thật sự nhìn vào tâm của mình, người này thấy sự bất mãn, bất an, sợ hãi và lo lắng. Đó là những gì mà người ấy có thể tự mình nhận thấy được. Người ta không buộc phải tin. Thật là ngu xuẩn khi nói rằng; "Tôi tin vào khổ đế" hoặc "Tôi không tin vào khổ đế. Tôi tin rằng mọi điều đều tuyệt vời". Tin hay không tin thì không quan trọng, nhưng đúng hơn, người ta hãy nhìn sâu vào nội tâm và tự hỏi "Tôi có luôn luôn cảm thấy tuyệt vời và hạnh phúc không? Có phải cuộc sống là một nguồn vui liên tục? Hoặc đôi khi tôi có cảm thấy phiền muộn, hoài nghi, lo sợ v.v...?"
Chỉ nói riêng về cảm nhận của bản thân tôi, tôi có thể nhận thức rất nhiều về khổ đế. Không phải là tôi muốn chấp nhận một ý hệ bi quan. Tôi nhận ra rằng có một nỗi sợ hãi, bất an, phiên muộn trong bản thân tôi.
Tuy vậy, khổ đế (thánh đế thứ I) không phải là một chủ thuyết. Nó không nói "Đời là khổ" nhưng chính xác hơn nó chỉ nói rằng "Có điều này". Nó đến rồi đi. Nó sinh (Tập đế), nó diệt (Diệt đế; thứ ba) và từ đó dẫn đến sự hiểu biết Bát Chánh Đạo (Đạo đế). Đó là một cái nhìn rõ ràng vào sự siêu nghiệm của khổ, tất cả của thông - qua chánh niệm. Bát Chánh Đạo chỉ là sự chánh niệm trong đời sống hàng ngày.

Wheeler:
Tuy vậy chính chánh niệm không phải là một yếu tố nhân thiện.

Sumedho: Trung tính. Nó không thuộc về bất cứ ai. Nó không phải là những gì mà người ta thiếu; nó không phải là một sở hữu cá nhân.

Wheeler: Có những sở hữu tâm thiện và sở hữu bất thiện, và có những sở hữu luôn luôn hiện diện, giống như chánh niệm. Chánh niệm không phải là tốt đẹp bẩm sinh.

Sumedho: Đó là sự tỉnh giác về thiện, ác như là sự đổi thay. Bằng cách dùng tuệ phân biệt (sati-panna), người ta thấy những điều thiện và ác là vô thường và vô ngã. Sự chánh niệm này giúp cho người ta thoát khỏi ảo tưởng cho rằng những điều thiện ác này có khuynh hướng có sẵn.

Wheeler: Tôi xin được quay trở lại một chốc lát về vai trò của truyền thống. Ngài có cảm thấy rằng sự trung thành tuyệt đối với một truyền thống đặc biệt thường có khuynh hướng phân biệt giữa truyền thống này và truyền thống khác mà đã có những giá trị chắc chắn nào đó?

Sumedho: À, theo mức độ quy ước, dù gì đi nữa mọi vật đều riêng biệt. Anh với tôi là một người khác biệt, là một thân xác khác biệt. Điều khác biệt này chỉ có thể được giải quyết khi chúng ta hợp nhất với nhau bằng sự phát triển trí tuệ. Còn với hình dạng quy ước này thì chỉ có sự phân biệt. Sẽ luôn luôn có đàn ông, đàn bà và vô số quy ước tôn giáo. Tất cả những điều này đều theo nằm trên sự nhận thức của giác quan, đó là luôn luôn phân biệt và kỳ thị. Sự việc này không thể khác đi được – Nhưng nếu một người có chánh niệm, chính những quy ước này đưa người ta đến bất tử, ở nơi đó chúng ta hợp nhất lại thành một. Ở nơi đấy không có "anh" hoặc "tôi".

Wheeler: "Bất tử" - ngài sử dụng thuật ngữ này như thế nào?

Sumedho:
Nó chỉ có ý nghĩa là không sanh không diệt. Thật sự, không có gì để nói thêm, bởi vì các từ là sanh và tử.

Wheeler: Liệu người ta có thể nói rằng "bất tử" là đồng nghĩa với sự chấm dứt bám víu và chấp thủ?

Sumedho: Không chấp thủ đưa đến những điều kiện chết.

Wheeler: Tôi nhận ra nó có nhiều tình huống hơn ngoại lệ khi lệ thuộc vào một nhóm, có một khuynh hướng cảm thấy an toàn, khuynh hướng kết tội, xem thường hoặc chê bai những người không có cùng đức tin tôn giáo hoặc giáo điều triết lý. Làm cách nào để người ta vượt qua được cái ý tưởng phân biệt này, tạo ra bả chất phản kháng? Làm thế nào người ta không còn bị vướng mắc ở hình thức, liệu việc này còn ở trong sự nghiên cứu hay môi trường thiền?

Sumedho: À, chỉ cần được giác ngộ thì sẽ giải quyết được mọi vấn đề của anh

Wheeler: Cám ơn nhiều.

Sumedho: Người ta phải thực hiện việc tốt nhất trong tất cả các việc này.Tu viện Chithurt là một điển hình của một nơi không tốt nhất mà cũng không tồi tệ nhất. Nó vừa phải. Một số người sẽ sử dụng nó, một số người không. Tôi không muốn nó trở thành quá hoàn hảo hoặc lý tưởng, bởi vì mọi người cần có sự va chạm, bằng không, họ sẽ trở nên tự mãn hoặc buồn chán. Cần phải cho mọi người một không gian để làm việc vì thiên hướng hoặc vấn đề cảm xúc của họ.
Trong cuộc sống của mình tôi đã thấy rõ cái cách mình bị vị thầy, truyền thống, và quy tắc thu hút ra sao. Nếu một người nghiêm túc và theo dõi dukkha, sau đó bắt đầu nhận thấy được điều này và xả bỏ nó. Đó không có nghĩa người này từ bỏ truyền thống; nó chỉ có nghĩa là người này có thể cư xử thanh thản với nó.
Tôi thích đời sống ở tu viện. Tôi thích mình là một nhà sư. Tôi nghĩ rằng đó là một cách sống rất đáng yêu khi làm con người. Nhưng nếu ý thích sống ở tu viện không còn nữa, khi tới lúc, nó sẽ chấm dứt. Nó là như thế đó. Đâu có hề gì.
Tuy thế cũng không cần phải loại bỏ lễ xuất gia. Tôi trở nên chín chắn nhờ nó. Tuy vậy tôi chưa từng thấy một cách sống nào tốt đẹp hơn để sống cuộc sống của một con người. Vì thế tôi sống cách này cho tới lúc nó thay đổi. Khi đến thời điểm thay đổi nó sẽ tự mình thay đổi. Tôi không quyết định được, "Chà, tôi chán việc này. Tôi sẽ thử làm một cái gì khác".
Người có thể nhận thấy toàn bộ ý nghĩa chung về cuộc sống của một nhà sư thật tuyệt vời. Nó vô hại, nó thật đáng kính trọng; nó cũng rất hữu ích cho xã hội. Tôi biết cách sử dụng nó. Tôi có thể dạy dỗ qua truyền thống này. Tôi có thể dạy cho mọi người cách sử dụng truyền thống này, mà tôi nghĩ rằng biết cách dùng nó là một điều tốt. Người ta có thể học hỏi cách dùng những quy ước thay vì chỉ chối bỏ chúng.
Nếu tôi cho anh một con dao, anh có thể sử dụng nó với mục đích xấu hay tốt. Vấn đề là không phải con dao, phải không? Nếu anh dùng nó để giết tôi, anh sẽ nói "con dao này xấu", phải không? Con dao này có thể là một con dao rất tốt, một công cụ khéo và hữu ích. Điều này giống như truyền thống Nguyên Thủy và Phật giáo Tây Tạng; sự việc là học cách sử dụng chúng khéo léo - và điều này tùy thuộc vào anh đấy!
Người ta phải công nhận rằng những thiền sư Á Châu đến từ một xã hội (ví dụ như Tây Tạng) nơi đây mọi điều không ít thì nhiều đã được người ta cho là có giá trị. Họ được nuôi dưỡng trong một xã hội nghĩ và sống theo Đạo Phật. Dù họ có lòng mộ đạo hay không, điều này không có sự khác biệt. Tuy thế, điều này ảnh hưởng đến quan điểm của họ và thế giới. Trong khi bạn đến từ một quốc gia mang chủ nghĩa vật chất, và nơi đó, những giá trị - được đặt trên cơ bản tham lam và cạnh tranh, sự tin cậy và đức tin còn nằm trong sự hiểu biết khái niệm - đã tác động đến tâm của anh. Đức tin của chúng ta ở Hoa Kỳ nằm trong sách vở, phải không? Ở các trường đại học, ở khoa học, ở sự hiểu biết khái niệm, ở lý lẽ hiện thực.

Wheeler: Ngài có nhận thấy rằng loại hiểu biết này không có căn cứ phải không? Hoặc có thể nó cũng được sử dụng thích đáng?

Sumedho: Sự học hỏi cách sử dụng các sự vật như thế đó là đúng đắn có trí tuệ. Chẳng có điều gì trên thế gian là vô giá trị. Tất cả đều hoàn hảo. Không có bất cứ điều gì trong vũ trụ mà chúng ta phải loại ra hoặc thêm vào. Thật sự, chẳng có điều gì sai lệch.
Người ta đang đi tìm một sự hoàn hảo, tuy thế nó lại nằm trong sự sai sót, nơi mà mọi người lầm lạc. Nếu một người đi tìm sự hoàn hảo nơi một vị thiền sư Phật giáo hoặc ở truyền thống Phật giáo, người này sẽ bị vỡ mộng vì nó. Nếu một người đi tìm sự hoàn hảo ở bất cứ ai, hoặc sự hoàn hảo nơi thân xác của một người, và những trạng thái tâm của một người... điều này không thể đạt được! Người ta không thể buộc tâm chỉ nghĩ đến những ý nghĩ tốt lành, hoặc luôn luôn từ bi bác ái, không có thù hận hoặc ác cảm.
Tâm giống như một tấm gương - nó phản chiếu. Như vậy những bậc có trí tuệ biết được phản chiếu là phản chiếu, và không phải là ngã (cái tôi). Những sự phản chiếu không làm hư hại chiếc gương chút nào. Chiếc gương có thể phản chiếu những điều cực kỳ xấu xa nhất nhưng không bị điều xấu xa làm dơ bẩn. Và những sự phản chiếu sẽ thay đổi. Chúng vô thường.
Sự xấu xa nhất và dơ bẩn cũng đóng một vai trò quan trọng. Sân hận và những điều xấu xa trong tâm của một người giống như phân bón bốc mùi hôi hám. Nó không tốt đẹp và người ta không thích thú khi gần nó. Tuy thế nó thật sự mang lại nhiều nguồn dinh dưỡng tốt cho rễ cây, để chúng sẽ trổ ra nhiều cành hoa xinh đẹp. Nếu người ta có thể xem xét phân bón và biết nó dùng cho việc gì, như vậy người ấy có thể đánh giá được giá trị của nó, thay vì nói "Ồ, hãy đem nó đi nơi khác! Tôi không cần nó cho bất cứ điều gì".
Ngay cả sân hận là Dhamma (Chân lý), dạy chúng ta rằng nó là vô thường và vô ngã. Mọi việc đều đưa chúng ta đến chân lý tuyệt đối, nhờ thấy rằng bất cứ điều gì điều sanh rồi cũng diệt. Như vậy ngay những ý tưởng xấu xa nhất trong tâm của một người cũng như thế; nó đơn thuần là điều kiện thay đổi. Nếu một người không cưỡng lại được hoặc buông thả, nó khởi lên từ sự rỗng không và quay trở lại sự rỗng không. Nó hoàn hảo. Không có điều gì là sai lệch và đó là lý do tại sao không có gì để lo sợ.
Nếu một người cố gắng suy nghĩ ra những phương cách để thay đổi để mà thế giới sẽ thật hoàn hảo, người ta sẽ hết sức chua xót và thất vọng. Mọi người cảm thấy rất khó chịu khi tôi nói điều này, bởi vì họ nghĩ rằng tôi không làm gì cả. Điều gì cần phải làm, tôi sẽ làm. Điều gì không cần làm, tôi không làm.
Chỉ duy điều này: Người ta làm điều thiện và tránh xa điều xấu. Đó là tất cả những gì mà tôi có thể gánh vác. Tôi không thể làm điều gì khác cho thế gian ngoài điều này. Khái niệm về thế gian sẽ thay đổi khi trí tuệ phát sinh từ trong bản thân của chúng ta. Rồi lúc ấy chúng ta sẽ nhìn thế giới theo bản chất thật của nó, đúng hơn là tin tưởng vào thế giới như chúng ta nghĩ nó là như thế.
Chân lý không phải là tín đồ Phật giáo. Nghĩa là không phải các Phật tử đều có bất cứ tuệ giác nào với chân lý. Nó chỉ là một cách để tiến hành.

Wheeler: Ngài đề cập rằng vấn đề được đặt nặng ở tu viện của thiền sư Ajahn Chah là sự duy trì Vinaya, giới luật của nhà sư. Có nhà sư nào của ngài Ajahn Chah học kinh điển, chẳng hạn như Abhidhamma, có phải thiền sư Ajahn Chah nhận thấy việc học là cần thiết, hoặc không xem trọng việc học?

Sumedho:
Tất cả các nhà sư đều phải học. Vẫn còn các kỳ thi của chánh quyền dành cho các nhà sư, mà người ta có thể đạt tới ba trình độ. Ngài Ajahn Chah khuyến khích các nhà sư tham dự các kỳ thi dựa trên sự hiểu biết cơ bản về Dhamma và Vinaya. Vì thế, ngài khuyến khích các nhà sư học nhiều vào.
Ngài Ajahn Chah sẽ gởi những nhà sư có sở thích và năng khiếu theo học tiếng Pali ở một tu viện đặc biệt chuyên dạy ngôn ngữ này. Tuy thế, ngài không đi lệch ra ngoài đường lối của mình trong việc khuyến học, bởi vì ngài nhận thức rằng việc hiểu biết văn phạm Pali không phải là điều kiện cần đưa đến giác ngộ.
Đó là một sự việc rất đặc thù. Người ta không thể may chỉ một bộ quần áo mà vừa vặn cho tất cả mọi người. Tuy vậy, khuôn mẫu chung được khuyến khích ở tu viện là phát triển chánh niệm của mình trong khi an trú trong giới luật.

Wheeler: Có phải thiền sư Ajahn Chah mong muốn các nhà sư của mình giảng dạy một mục nầy hoặc mục khác phải không?

Sumedho: Khi họ có đầy đủ khả năng, ngài đề nghị họ bắt đầu giảng dạy.

Wheeler: Như vậy, một ngày nào đó hầu hết hoặc tất cả các nhà sư sẽ giảng dạy?

Sumedho: Điều này tùy thuộc vào nhà sư. Một số nhà sư không thể giảng dạy; họ không có khả năng về phương diện này - nghĩa là, không có khả năng sư phạm. Một số vị khác hướng dẫn bằng những hình thức khác, chỉ bằng gương sống của họ.

Wheeler: Lúc ban đầu, ngài nói rằng ngài đã gặp nhiều khó khăn khi ở chùa Wat Pah Pong. Đó là những khó khăn? Lẽ đương nhiên, lúc mới đầu, ngài gặp khó khăn về ngôn ngữ và tôi chắc rằng đó là một khó khăn hơn

Sumedho:
Vâng, chính là ngôn ngữ và văn hóa mới lạ. Trong hoàn cảnh đó người ta phải từ bỏ mọi thứ mà người ta đã từng quen thuộc trong cuộc sống của mình.

Wheeler: Ngài đã xử lý việc đó thế nào?

Sumedho: Thực tế, tôi đã hành động như vậy. Tôi thật sự không biết diễn tả như thế nào về phương sách tôi giải quyết về vấn đề này. Nếu một người muốn ở lại và học hỏi những điều ở nơi đây, người ấy chỉ làm những gì cần phải làm. Tôi tìm cách thay đổi lối sống của mình cho phù hợp với cách sống của những người ở đấy.
Các nhà sư Thái rất tử tế. Đây không phải là nơi những ta gây khó khăn cho tôi. Luôn luôn có sự bao dung và nhân ái. Tôi chỉ tập làm quen với tính cách khác biệt, ăn thức ăn lạ, tập nói ngôn ngữ của họ.

Wheeler:
Đôi khi, những người từ hai nền văn hóa khác lạ gặp gỡ nhau, một hình thức kiêu ngạo về nền văn hóa của mình có thể phát sinh từ phía này hay phía khác, hoặc cả hai. Ngài có đối mặt sự kiện này không?

Sumedho: Vâng, đúng như vậy. Người Thái có những cảm nghĩ giống như những người khác về nền văn hóa và xã hội của họ. Tuy vậy, tất cả mọi người chúng tôi cùng chia xẻ một lối sống chung trong tu viện; nơi đây không chú trọng về di sản văn hóa mà chú trọng về giáo pháp của Đức Phật. Vì thế những khác biệt về văn hóa dường như không phải là điều lớn lao với bất cứ ai.
Tôi sành sõi cuộc đời hơn họ rất nhiều. Tôi đã từng đi đây đó nhiều nơi, và nói chung, biết rất nhiều điều trên thế giới. Họ cao cả hơn tôi ở khả năng sống thật tốt đẹp và hòa hợp vào duy nhất một truyền thống mà họ hiểu biết. Tôi thường cảm thấy mình rất ngớ ngẫn và vụng về, giống như một người rất đần độn, bởi vì tôi không có sự phối hợp về thể chất hoặc sự nhạy bén ở hành động mà họ có.

Wheeler:
Hôm nọ, chúng ta đã trò chuyện về các truyền thống và tập quán, và một thái độ tự mãn có thể phát sinh như thế nào đối với sự tu tập của một người. Thường thường, nhà sư trẻ phải tuân giữ chặt chẽ lời nguyện và giữ gìn giới luật nghiêm minh. Sau đó người ta nhận thấy mình thật sự không đi sâu hoặc tu tập nghiêm túc. Một người có khuynh hướng trở thành máy móc trong những hành động của mình, và có lẽ muốn khám phá chân lý, người đó sẽ bị ngộp thở bởi sự đè nặng của sự tổ chức cơ cấu hoặc truyền thống. Ngài có nhận thấy rằng loại suy thoái này đã diễn ra ở Wat Pah Pong không?

Sumedho: À, tôi không tìm kiếm truyền thống cho chính bản thân tôi, bởi vì tôi có nhiều động cơ cho riêng mình, không để cho bất cứ truyền thống nào cản trở tôi. Tuy thế tôi có thể thấy một số nhà sư không năng động lắm. Họ chỉ trong khuôn khổ, bởi vì nó là truyền thống của họ. Do đó, họ có khuynh hướng chìm sâu vào lối sống quen thuộc của một nhà sư.
Ngài Ajahn Chah thật sự là một chuyên viên đưa mọi người vượt ra khỏi những tập quán bất di bất dịch. Tuy vậy ngài không thể liên tục hoạt động như vầy. Người ta không thể mong đợi ngài làm vú em cho tất cả các nhà sư. Tôi nghĩ rằng vào lúc ban đầu, ngài đã hoạt động rất mạnh. Tôi nhận thấy rằng bây giờ, Ngài thực hiện điều này dễ dàng hơn nhiều và hầu như để việc này lại cho các nhà sư phát triển. Phương pháp phải là như thế. Đây là một phương pháp tu tập rất chính chắn. Thiền sinh không cần đến các vị thiền sư liên tục đến khuyến khích và khuấy động. Chúng tôi tự mình thực hiện công việc này. Tuy thế các nhà sư Thái và sư phương Tây dường như đã lún sâu vào thói quen. Họ thường hành động như thế dù họ ở bất cứ nơi nào. Họ không có "sự thôi thúc" trong cuộc sống của mình.

Wheeler: Tôi nghĩ rằng ngài đang chế giễu tôi ... Krishnamurti nói: "vai trò của Guru, người thầy tinh thần, là vạch rõ con đường. Thế là hết bổn phận. Sau đó để người ta học hỏi. Nếu vị này muốn tìm hiểu, vị này sẽ tự mình khám phá. Nhưng nếu ngài hướng dẫn cho vị này mọi điều, như vậy ngài đã đối xử người như một đứa bé. Không còn gì là ý nghĩa đối với nó!" [3]

Sumedho: Đúng vậy, đúng vậy.

Wheeler: Trong vai trò của ngài là một tu viện trưởng, bằng cách nào Ngài hướng dẫn các môn đồ của mình để ngăn ngừa việc thọ nhận những vật có giá trị; đặc biệt trong việc thọ nhận những lễ vật cúng dường của các thí chủ? Làm cách nào để ngài đề nghị họ ngăn chặn những sự việc trở thành lề thói, quả thật đó là sự an toàn; cái cảm nghĩ rằng đó đúng là một cuộc sống tốt đẹp, thoải mái?

Sumedho: À, chính xác nó không phải là một cuộc sống thoải mái. Ở Anh quốc, vấn đề này không biến thành một thông lệ, bởi vì không có truyền thống để mà ăn sâu vào. Nó thật mới lạ. Như vậy nó không phải là một cảnh ngộ để người ta thật sự có thể chìm sâu vào bất cứ điều gì.
Ở Anh quốc không an toàn như ở một xứ sở đạo Phật. Làm một nhà sư ở Anh quốc là sự mạo hiểm, sự may rủi, không được đảm bảo. Như vậy người ta cần phải cảnh tỉnh nhiều hơn nữa, trong khi đó ở Thái Lan, người tu đương nhiên là được bởi vì Phật giáo đã được chính thức hơn và vững chắc ở xứ sở này.
Tất cả những gì người ta có thể làm là khuyến khích liên tục nhắc nhở mọi người - bởi vì họ quên lãng. Nhưng họ thật sự phát triển như thế nào là tùy thuộc vào họ. Như họ nói "Anh có thể đưa một con ngựa xuống nước..." Và đó là tất cả những gì anh có thể thực hiện được.

Wheeler:
Tuy thế đối với một số người có thể có một khoảng trống giữa khuynh hướng và sở thích của chính họ; và hệ tư tưởng mà họ đang theo đuổi. Làm cách nào để nối kết khoảng trống đó?

Sumedho: Tại sao người ta phải thừa nhận một khoảng trống giữa mọi người. Đó là giá trị thật của đời sống tu hành. Người ta phải thừa nhận con người cần có thời gian và cơ hội để phát triển, đúng hơn là kỳ vọng họ tạo nên những thay đổi lớn lao ngay lập tức. Một số người hiểu biết liền lúc ấy; một số khác phải mất nhiều năm. Điều này không có nghĩa là người ta sẽ chỉ giảng dạy cho những người hiểu ngay liền - họ không cần phải được dạy dỗ thật nhiều!
Người ta cũng có thể cung cấp ít nhất một nơi trong tu viện cho những người sống một đời sống tốt đẹp thay con đường thiện . Cuối cùng điều gì đó cũng sẽ thấm vào họ. Ít ra đó là nghiệp thiện. Người ta không làm bất cứ hành động bất thiện nào. Loại môi trường này khuyến khích người ta làm lành tránh dữ. Đó là một môi trường đạo đức. Sự đặt nặng ở đây là chú ý, cảnh giác và theo dõi; đối mặt với cuộc sống của mình là như mình người ấy đang cảm nhận nó, xem xét nó, và học hỏi từ nó.
Cải cách mà một người cương quyết và quyết tâm trong tu tập là vấn đề cá nhân. Một số người tiến bộ rất nhanh, những người khác lại rất chậm; một số lại trung bình. Trong tu viện, người ta có thể cho phép nhanh hoặc chậm. Sự việc không phải là người ta đang chỉ chọn lựa người giỏi nhất, những người nhanh nhất. Sự lợi ích của việc có một cộng đồng tu tập là có cơ hội cho nhiều người phát huy. Một vài người chẳng bao giờ giác ngộ được nhưng ít ra họ có phát triển sự tốt đẹp trong cuộc sống của mình.

Wheeler:
Như thế, ngài không cho rằng một cộng đồng tu sĩ sẽ giống như một chỗ dựa hoặc một nơi giam cầm, ngăn chặn người ta phát triển?

Sumedho: Không. Bất cứ cái gì cũng có thể là chỗ dựa, là nơi giam cầm. Tất cả đều tùy thuộc vào việc người ta sử dụng hoặc nương dựa vào nó. Nhiều người nghĩ rằng có chỗ dựa là tồi tệ. Những sự nương tựa tự nó không chống đỡ không có gì tồi tệ. Đôi lúc chúng ta cần nương tựa.
Hãy tưởng tượng khi nói với một đứa bé sơ sinh, "Con có đôi chân rồi. Hãy đứng dậy và bước đi! Ta sẽ không ẵm con đứng dậy, cho con ăn hoặc làm bất cứ việc gì cho con. Bây giờ con đã sinh ra đời. Con phải học hỏi và tự lo cho bản thân". Tuy thế đứa bé vẫn chưa sẵn sàng. Hiểu được hoàn cảnh nầy tình huống, người ta nuôi nấng và chăm sóc bé.
Vừa lúc đứa bé biết bò, người ta không nói rằng, "Nếu con dựa vào việc bò, con sẽ bò suốt toàn bộ cuộc đời còn lại và không đến được bất cứ chỗ nào. Hãy đứng dậy và bước đi!" Nhưng đứa bé không thể làm được. Nó chưa sẵn sàng. Nó vẫn chưa đủ sức mạnh.
Nó dùng chân tay của mình để bò và vẫy, leo lên ghế, và người mẹ nắm lấy bàn tay của nó v.v..., nó đang phát triển sức mạnh và lớn lên dần, cho tới lúc nó bước đi được bước chân đầu tiên trong cuộc đời. Khi nó tự mình bước đi, Theo lẽ tự nhiên, nó không còn cần dùng đến những sự nương dựa nữa. Khi đứa bé bắt đầu học đi một mình, nó bỏ đi những sự nương tựa. Nó không còn muốn nắm bàn tay của mẹ nữa.
Trên con đường tâm linh cũng thế, đôi lúc những sự nương tựa có chủ ý tăng thêm sức mạnh. Khi người ta đủ mạnh, người ta bắt đầu bước đi - tự lập.

Wheeler: Ngài đã đưa ra phép loại suy về một đứa bé đang tập bò, phát triển chầm chậm, dần dần. Một người ở trong hệ thống, chỉ thích nghi với khuôn mẫu của nó mà không thật sự đào sâu - làm cách nào mà một hệ thống hoặc một tổ chức có thể giúp anh ta vượt ra khỏi lối mòn mà anh ta đã lún sâu?... À, tôi chỉ đang nói về bản thân tôi, ngài biết đấy... Đôi lúc tôi cảm thấy cần thiết phải trốn thoát khỏi chủ định duy nhất về sự thức tỉnh, cái mà có thể tạo thành lối sống tự mãn.

Sumedho: Chính cuộc sống là một sự thay đổi không ngừng. Đó không phải là những cơ cấu và những điều kiện tự thay đổi. Một số nhà sư phải từ bỏ y áo và trở về đời. Một số khác, sau nhiều năm không tìm được điều gì cho bản thân, và tìm kiếm cái điều gì khác để làm. Tất cả những gì mà người ta có thể yêu cầu họ làm là cố gắng sống trung thực với những ý định của họ. Mỗi một cá nhân phải giải quyết chính cuộc đời của mình...
Nếu một ai đó cảm thấy mình đã sống đủ cuộc đời tu hành và muốn sống theo một cách khác, điều này là hoàn toàn đúng thôi; đó là sự lựa chọn của người đó. Nhưng người ấy nên trung thực với những ý định của mình, tốt hơn là chỉ dùng như lời bào chữa. Điều này rất quan trọng. Điều duy nhất không được tốt đẹp mà người ta nghe thấy được là khi một ai đó rời bỏ tăng đoàn (giới luật tu tập), nhưng không trung thực với lý do người ấy từ bỏ để trở lại đời thường. Một người có thể biện hộ sự ra đi của mình bằng cách bôi bác truyền thống. Tuy thế đôi khi người ta rời bỏ cuộc sống tu tập vì những hoài nghi chính đáng.

Wheeler:
Là một tu viện trưởng, làm cách nào ngài khuyên các đệ tử của mình có cách nhìn về những lễ nghi và nghi thức mà dường như có thể khá xa cách với sự tu tập thực tế?

Sumedho:
Riêng cá nhân tôi thích những nghi lễ. Thực thú vị khi thực hiện chúng; chúng yên lặng. Người ta thực hiện chúng với một nhóm người. Đó là đang thực hiện một điều thú vị, cùng với nhau và trong một trạng thái hợp nhất. Ý định này luôn luôn tốt đẹp; tỏa ra tình nhân ái và tụng lên những lời dạy của Đức Phật bằng tiếng Pali. Nó thường nâng cao và truyền cảm hứng cho tâm của nhiều người. Đó là chức năng duy nhất mà tôi có thể trình bày.
Tôi cho rằng lễ hội làm cho cuộc sống càng tốt đẹp hơn. Nếu một người chưa bao giờ sử dụng lễ nghi và không hiểu được mục đích của nó. Như vậy khi một người gặp gỡ một hình thức lễ nghi, người ấy có thể phản đối, và nghĩ rằng "Tôi không thích sự việc này", hoặc "Những lễ nghi là không đúng". Nhưng chúng không phải như vậy! Chẳng có điều gì sai trái với lễ nghi. Chúng hoàn toàn đúng khi người ta có những sự kiện này.
Chúng ta không đặt thành vấn đề để nói người ta nên hay không nên có những nghi lễ. Chúng là một phần truyền thống của chúng ta, như vậy chúng ta sử dụng chúng nếu chúng thích hợp. Nếu chúng không thích hợp, chúng ta không sử dụng chúng. Nó là vấn đề của sự hiểu biết, hơn là có những quan điểm về nó.

Wheeler: Ngài quan niệm như thế nào về vai trò của một tu viện trưởng? Ngài nhận xét bản thân mình như thế nào khi mình là một nhân vật có quyền lực?
Sumedho:S À, tôi thật sự không suy nghĩ về điều này. Tôi hành động đúng mực của một vị tu viện trưởng. Đó là bản tính biết đánh giá phẩm hạnh và những cơ cấu tôn ti trật tư của tôi. Tôi không cảm thấy những điều này là không thể chịu đựng được Thực sự, tôi nhận thấy (vai trò một tu viện trưởng) là một niềm vui lớn lao. Đó thật là một chức vụ thú vị. Nó có sự bất lợi của mình trong ý nghĩa là tôi phải nhận các thứ bị ném đến cho tôi chứ không phải được chọn lựa.
Tuy thế tôi cũng rất thích phục vụ người khác. Tôi thích quay trở lại và đứng số 10 trong hàng. Ở Thái Lan, điều rất tốt đẹp là không phải một người quan trọng, không cần phải luôn luôn đứng trước mọi người.
Tuy thế, sự tu tập của chúng tôi là tập thích nghi dần, chứ không phải chọn lựa. Trước tiên là không dễ dàng làm một người tu viện trưởng. Có một điều thật khó khăn đối với tôi để nhận lấy vị trí này, bởi vì nhiều ý tưởng không tương xứng và tự hoài nghi phát sinh. Vì thế tôi thể nhập vào nó. Tôi làm việc với những ý tưởng này, dùng làm đề mục tham thiền của tôi đưa tới cái điểm mà ở đó vị trí này trở nên dễ dàng đối với tôi. Tôi thích nghi dần với vị trí hơn là tin tưởng vào những ý nghĩ: "Ô, tôi chưa sẵn sàng cho vị trí, hoặc chức vụ này, hoặc tôi không muốn làm công việc này!" Gắn bó vào vai trò của một thầy trụ trì cũng là một điều dễ dàng để thực hiện. Nghĩa là, tự đưa bản thân mình trở thành một người quan trọng.
Nếu một người có chánh niệm, người ấy đang kiểm soát và theo dõi; những điều này chỉ là những tình huống đổi thay của samsara (luân hồi, cõi ta bà). Lúc này là thầy trụ trì, lúc khác là người hầu - mọi điều đang thay đổi. Nếu một người không có sự yêu thích hơn, như vậy người này không gặp phải sự đau khổ khi hoàn cảnh thay đổi. Nhưng nếu một người quyết tâm không trở thành chức tu viện trưởng hoặc giữ một địa vị có trách nhiệm, thì khi hoàn cảnh xảy ra người ấy giả thử phải giữ địa vị nầy, ông ta sẽ đau khổ.
Về một mặt khác, nếu một ai đó muốn trở thành một người quan trọng, nhưng chỉ ở vị trí số 10, người đó cũng đau khổ, bởi vì cảm giác phẫn uất và ganh tị với những người trên mình. Như vậy người ta cũng phải theo dõi điều này.
Điểm chủ yếu ở giáo pháp của Đức Phật là phải nhận biết về khổ. Mọi người đều phải gặp khổ, như vậy tất cả chúng ta đều phải theo dõi điều này. Sự kiện không phải là để chọn bất cứ vị trí nào ở trong hàng là "của mình". Một người có thể lên, xuống hoặc ở lại, tùy theo thời gian và nơi chốn.

Wheeler:
Làm cách nào ngài đã tham thiền về sự "không tương xứng này" mà ngài cảm thấy? Làm cách nào mà ngài đã đối diện với điều đó?

Sumedho: Tôi chỉ theo dõi. Tôi chỉ lưu ý và lắng nghe, những tình huống của tâm tôi than vãn, kêu ca tiếp tục mè nheo, "Tôi chưa sẵn sàng..."

Wheeler: Một lần nữa, trong buổi tham thiền sáng nay, nỗi giận hờn và phẫn uất lại nổi lên. Lần này tôi để cho nó đến tự nhiên, theo dõi, quan sát nó... sinh rồi diệt... không đồng hóa với nó, không bám víu vòa nó. Và khi nó đi - và chắc chắn sẽ trở lại nữa! Tất cả của sự tu tập có phải là: sự theo dõi liên tục, kiên quyết và vững bền về sự sanh diệt của các hiện tượng?

Sumedho:
Đó chính là sự nhận thức hoặc tỉnh giác.

Wheeler:
Và những chướng ngại sẽ mất dần sau một thời gian nào đó phải không?

Sumedho:
Đúng vậy. Nếu người ta không hành động theo nó. Thói quen sẽ dần dần tàn lụi.

Wheeler:
Mặc dù người ta không hành động theo phiền não nhưng bởi vì khuynh hướng phiền não luôn khởi dậy nên hành động cũng không phải theo đó mà ra hay sao?

Sumedho: Người ta không thể ngăn được tình trạng làm cho ảo tưởng phát sinh trong tâm của người đó. Một trong hai hành động có thể có là: hoặc người đó phản ứng bằng cách bị cuốn hút vào hành động hoặc kềm chế nó.
Nếu một người có khuynh hướng kiềm chế được sự khó chịu, thì sẽ cảm thấy tội lỗi hoặc tự sân hận. Người đó nuôi dưỡng tâm trạng đưa ra tâm trạng đó, "Ồ, tôi không còn gì để hy vọng, ngu xuẩn, tôi không thể làm được bất cứ điều gì đúng đắn. Tôi đang phung phí đời mình..." Chỉ lắng nghe nó! Hãy tiếp tục nuôi dưỡng và lắng nghe nó. Người ta nhận ra nó bằng cách khéo léo phô bày và quan sát nó. Và rồi nó sẽ biến mất. Ngược lại người ta có khuynh hướng chỉ kềm chế nó.

Wheeler:
Mặc dù ảo tưởng hoặc cảm xúc không phát sinh vào lúc đó, bởi vì người ta biết rằng cái nào chiếm ưu thế hơn thì cái đó sẽ gây cho người ta sự lo âu liên tục, như vậy là "nuôi dưỡng nó" đơn giản có nghĩa là để cho nó sinh khởi?

Sumedho: Thậm chí tôi đã đi tìm kiếm nó. Khoảng 7 hoặc 8 năm trước. Tôi gặp phải một vấn đề về sự ganh tị. Tôi chán ghét sự ganh tị. Tôi hiểu rõ rằng ganh tị là điều xấu, vì thế tôi thường cố gắng triệt tiêu nó. Khi tình huống đó phát sinh tôi thường suy nghĩ, "Ô, không được, ganh tị đây này. Tôi cố gắng giải quyết sự việc này ngay bây giờ. Tôi phải làm gì đây? À, người ta lẽ ra phải có niềm vui đồng cảm với những người mà mình ganh tị!". Do đó, tôi nghĩ rằng "Mình phải thật sự hạnh phúc với những gì đại loại như thế. Tôi phải thật sự hoan hỉ hạnh phúc về sự thành công của anh ta..."; nhưng trong lòng, tôi không thật sự muốn như vậy, nên tôi chỉ nói lời đầu môi chót lưỡi. Điều này không giải quyết vấn đề. Tôi thường kềm chế nó; tiêu diệt nó, và nó thường quay trở lại, đập mạnh vào chính tôi.
Cuối cùng, tôi nhận ra rằng vấn đề không còn là việc ganh tị, nhưng là mối ác cảm của tôi dành cho nó. Tôi chỉ căm hận bản thân vì có tính ganh tị. Tôi cảm thấy rằng lẽ ra tôi không nên có trạng thái đó; tôi xấu hổ vì điều này. Khi tôi đạt được sự thấu hiểu sâu sắc này, tôi bắt đầu nêu nó ra, suy nghĩ mọi điều khiến tôi ganh tị. Tôi tiếp tục quan sát nó. Sau một thời gian thực hiện điều này, vấn đề không còn nữa.
Tham ái là một điều gì mà chúng ta đã từng ham muốn, thích thú. Một người không phô bày tham ái ra để quan sát bởi vì người ấy bị cuốn hút vào nó; người ta thật sự dễ dàng bị tham ái lôi cuốn.
Tuy thế, những cảm xúc như hờn giận, và ganh tị là một loại cảm nhận ghê sợ đối với tôi. Tôi hoàn toàn không thích chúng và không ham muốn chúng. Như vậy, thay vào việc xua đổi chúng đi, tôi phải đưa chúng đến với tôi, như vậy tôi có thể nhận thức được chúng.
Tôi cố ý suy nghĩ về những kinh nghiệm ganh tị đã qua; Tôi chỉ nêu ra tất cả những ký ức mà vấn đề ganh tị nầy đã gây ra. Tôi không phân tích nó và tìm cách thấu hiểu nó "Tại sao?" nhưng chỉ quan sát bản chất vô thường của nó. " Xu hướng tiến tới" này đã dung hòa được thói quen bỏ qua mọi việc mà tôi đã có. Như thế chẳng còn vấn đề gì nữa.
Do đó, tại sao phải cần đến trí tuệ. Khi một người hiểu được khuynh hướng về sự yêu, ghét như thế người ấy thật sự biết được cách tu tập. Tìm ra sự quân bình giữa lực hút (yêu) và lực đẩy (ghét) đều xuất phát từ trí tuệ ở đây (chỉ vào trái tim của mình). Tôi chỉ đưa ra một sự hướng dẫn để xem xét việc sử dụng. Hãy quan sát nếu nó xảy ra!

Wheeler: Các đệ tử liên hệ với ngài ra sao? Nó có tương tự như cách liên hệ của ngài với thiền sư Ajahn Chah?

Sumedho:
Các đệ tử (nhà sư) cùng sống chung hiện nay rất tôn kính tôi. Họ là một Tăng đoàn rất tốt. Tôi đã từng gặp những đệ tử gây cho tôi khó khăn. Nhưng người ta cũng học hỏi được từ đấy. Những nhà sư khó tính không thích hoặc không kính trọng một người hay có thể dạy người khác quá nhiều điều. Họ tạo ra sự bất đồng ý kiến.

Wheeler:
Nhưng những điều ấy không gây ra những khó khăn trong Tăng đoàn (Sangha) sao?

Sumedho:
Vâng, chúng tôi tìm cách giải quyết những khó khăn hơn là tạo ra những môi trường lý tưởng.

Wheeler: Làm cách nào ngài góp ý kiến cho một trong những đệ tử của mình nếu vị này có những nỗi băn khoăn về việc tuân giữ những giới luật nào đó? Ví dụ, nếu một trong những vị sư cảm thấy tốt hơn nên mặc quần áo của cư sĩ thay vì mặc áo cà sa của nhà sư khi đến Luân Đôn?

Sumedho: Chúng tôi sẽ không bao giờ mặc quần áo của người đời.

Wheeler: Như vậy, không cần thiết đến lời khuyên.

Sumedho: Mục tiêu là hướng nhà sư đến sự hiểu biết ý định hoặc mục đích của mình, để biết rõ được mình đang làm điều gì, hơn là bắt buộc, hoặc qui định họ.
Chúng tôi đang dùng những tập tục đặc biệt và những truyền thống như là một tiêu chuẩn phản ánh, là một phương cách nhìn lại bản thân. Vấn đề mọi người phải tuân theo giới luật, nhưng cố gắng gợi lên đức hạnh con người, chịu trách nhiệm về phẩm hạnh của mình trong cộng đồng tu sĩ và ở thế gian. Người ta có thể khiến cho mọi người tuân giữ giới luật mà không sợ hãi. Họ lo sợ sẽ phạm giới bởi vì họ sẽ phải bị bắt gặp, bị trừng phạt và bị làm bẻ mặt. Nhưng điều này không gợi lên tính chính trực và đức hạnh.
Về mặt khác, người ta không muốn làm cho giới luật lỏng lẻo mà cũng không để cho bất cứ ai làm theo ý mình. Người ta cần một sự nghiêm khắc, một tiêu chuẩn mà người ta có thể học hỏi từ đó. Nếu không người ta thường nghĩ rằng "Ồ, y cà sa hay áo đời không có gì khác biệt ... Ồ, ăn buổi xế thì được thôi... Ồ, mang theo tiền thì cũng tốt thôi!". Người ta có thể hợp lý hóa bất cứ điều gì.
Có đủ lý do bào chữa cho việc phạm giới luật mà tôi đã từng thấy. Phải làm gì nếu một gia đình bên cạnh đang sắp sửa chết đói? Tại sao tôi không thể ăn cắp bánh mì của người giàu đem phân phát nó cho họ? Người ta luôn luôn có một lý do chính đáng để biện minh về hành động của mình. Như vậy đó không phải là việc hợp lý mà chúng ta đang cố gắng phát huy, nhưng là ý nghĩa của đức hạnh và trí tuệ. Quy định họ bằng sự sợ hãi, trói buộc họ bằng chuỗi giới luật là điều không thể thực hiện được bởi vì giới luật không uyển chuyển và cứng nhắc đến nổi biến họ thành như những con chuột trong mê cung.

Wheeler:
Tôi thường nghĩ rằng các nhà sư Theravada thể hiện những lời nguyện rất chính xác. Tuy vậy bây giờ tôi thấy rằng Giới Luật (Vinaya) có thể được dùng như là một bài học trong sự phát triển chánh niệm. Tất cả là thế đó.

Sumedho: Đúng vậy. Nó thật sự là một phương tiện hết sức tốt đẹp.

Wheeler: Nhưng theo như ngài đã đề cập, những giới luật có thể trở thành một kỷ luật làm loạn tinh thần.

Sumedho: Trước tiên người ta phải thích sự luyện tập rồi. Người ta tự luyện tập. Khi một người học chơi đàn piano, thì không thể khởi đầu với nhiều khúc nhạc khác nhau. Đầu tiên, người ấy phải học từng khúc nhạc. Trước hết người ấy cần phát huy kỹ năng và sau đó phối hợp.
Người ấy phải làm công việc lặp đi lặp lại giống như việc phải ngồi hàng giờ liền cho đến khi đạt được kỹ xảo. Rồi sau đó người ấy bắt chước theo để chơi các khúc nhạc. Cuối cùng, khi kỹ năng đã được phát triển, người ấy không phải học theo hoặc bắt chước bất cứ điều gì nữa. Đây là điều tự nhiên. Sau đó người ấy có thể chơi nhiều thể điệu khác nhau, và nó trở thành một nguồn vui cho mọi người lắng nghe. Nhưng nếu một người cố gắng chơi nhiều thể điệu khác nhau trước khi người này biết đượctừng khúc nhạc, điều này có thể làm cho mọi người cảm thấy khó chịu khi nghe.
Đó là lý do tại sao giới luật tu sĩ (Vinaya) giống như các bài tập piano. Vào những năm đầu tiên thật chán nản. Người ta phải nghe đi nghe lại nhiều lần: mọi việc đều phải thực hiện theo một cung cách nào đó. Mặc dù nó trông có vẻ tiểu tiết và không thích đáng với bất cứ điều gì lớn lao, một khi đã rành rẽ cách sử dụng, người ấy đều phải nghĩ đến nó, cũng không thắc mắc, "Tôi nên ấn phím này hay phím kia?" Nó tự động bởi vì người ta đã được kỹ xảo sử dụng nhạc cụ đặc biệt này rồi. Từ đó về sau, người ta không còn lệ thuộc nó, người ta có thể sử dụng nó.
Một số nhà sư cũng giống như những người chơi dương cầm, họ chỉ chơi đi chơi lại những khúc nhạc tiêu chuẩn bởi vì họ e ngại rời xa tiêu chuẩn cơ bản. Họ không có sự tự tin; họ thiếu trí tuệ; họ chỉ ở trong khuôn khổ của mình. Điểm chủ yếu của giới luật tu sĩ là không quy định ai, trái lại, nó mang lại sự tự do hoàn toàn cho con người - không phải tự do theo đuổi ham muốn, nhưng tự do là tự giác. Người ta chỉ có thể thực hiện điều này nhờ có trí tuệ chứ không phải do ham muốn. Người ta không thể tự giác với lòng ham muốn, người ta bị nó khống chế.
Vinaya là một phương cách rèn luyện thân và khẩu; tạo cho chúng vẻ đẹp và khuôn thước, và thiết lập mối quan hệ với những người khác. Ví dụ, nhiều người chỉ trích những giới luật về phụ nữ: "Tại sao một nhà sư không thể đụng chạm đến người nữ?... Tại sao một nhà sư không thể ở trong phòng với một người nữ?... Tại sao tôi không thể mời một người phụ nữ đến đây để cùng trò chuyện riêng tư?... Điều đó đối với người nữ như thế nào? Có phải đức Phật là một người trọng nam khinh nữ không?" Những câu hỏi như thế thường được nêu lên. Đó là vấn đề thiết lập mối quan hệ thích đáng để người ta có thể tu học được Dhamma.
Nếu tôi mời một người nữ đến đây trong phòng này, mặc dù với ý nghĩ, "Tôi không còn tham dục nữa"; như thế thì người khác thấy có được không? Nó cũng là một cách để bảo vệ người phụ nữ, giữ cho họ khỏi bị đàm tiếu.
Hơn thế nữa, người nữ thường hay yêu các người thầy và những nhân vật có thế lực. Đối với những nhà sư hãy còn bị những người phụ nữ quyến rũ, phụ nữ có một sức hấp dẫn mạnh lôi cuốn họ mạnh mẽ, đặc biệt những người phụ nữ đang bàn cãi những vấn đề riêng tư của họ. Người ta có thể dễ dàng bị tình cảm lôi cuốn vào sự kiện đó.
Đức Phật không dạy rằng một nhà sư không thể hướng dẫn cho phụ nữ. Ngài dạy rằng một nhà sư nên thiết lập một mối quan hệ ở nơi mà có thể truyền dạy giáo pháp. Tôi nhận thấy điều này rất hữu ích trong việc rèn luyện các nhà sư. Không có những vụ tai tiếng hoặc chuyện gì lôi thôi trong tu viện của chúng tôi. Khi những người phụ nữ đến, họ biết những quy luật và chấp nhận chúng. Do đó, chúng tôi có thể truyền dạy giáo lý mà không có liên quan đến tình cảm và tất cả mọi vấn đề bàn ra tán vào.
Nhiều tỳ khưu ở Anh quốc, cả người Thái lẫn người phương Tây, đã bị ô danh do bởi tình trạng dễ duôi về phụ nữ. Đó là một mãnh lực tự nhiên. Khi tôi đến Anh quốc, tôi cũng nghĩ đây nó sẽ là một vấn đề rắc rối. Tôi cảm thấy rằng người phụ nữ phương Tây sẽ rất ghét và phản đối những quy tắc. Nhưng họ lại không như thế. Khi họ hiểu được những quy tắc, họ hết sức tôn trọng chúng. Nhưng chư Ni đôi lúc quá tỉ mỉ hơn cả chúng tôi. Họ rất thận trọng về Vinaya, bởi vì họ thật sự muốn thực hành nó đúng mực.
Trong cộng đồng tu viện của chúng tôi, không có vấn đề ganh tị về với người nữ. Chẳng hạn như, đại đức Sucitto có một người bạn gái hoặc ưu đãi với một trong những ni cô! Những tình trạng như thế này, nơi có sự ganh tị phát sinh, là một vấn đề thường tình của thế gian, phải không? Đây là một hình thức rèn luyện để tránh được những khó khăn này.

Wheeler: Ngài dạy dỗ cho mọi người đồng đều với nhau phải không?

Sumedho: Vâng, các ni cô là một thành phần lớn của cộng đồng tu sĩ. Họ thực hiện tất cả mọi chức năng và có cùng một hình thức rèn luyện.

Wheeler: Ngài có cảm thấy rằng người phương Tây dễ thích hợp trong việc tu tập chánh niệm (satipatthana) hơn là học về phân tích tâm lý (vi diệu pháp).

Sumedho: Chánh niệm là điểm chủ yếu của Giáo Pháp Đức Phật. Người ta không cần dành nhiều thời gian để học nó. Tôi cảm thấy không cần thiết học cũng có thể thực hành được. Tôi không phản đối điều gì cả.
Tuy thế, một số người cảm thấy thiên về sự uyên bác và tiến đến gần sự tu tập ở hình thức này. Tôi chỉ có có thể nói về kinh nghiệm bản thân mình. Tôi cảm thấy sự tu tập căn bản này là đủ rồi: Tứ Diệu Đế và Tứ niệm xứ. Tôi cần đến Vinaya và chánh niệm để hiểu biết được Giáo Pháp của Đức Thế Tôn qua kinh nghiệm thực hành hơn là lý thuyết. Nếu không, nó giống như việc luôn luôn xem bản đồ mà chẳng đi đâu cả.
Sự kiện là người ta không cần biết quá nhiều. Giáo pháp thì thật đơn giản. Cho nên đối với nhiều người việc tu tập là đủ rồi. Tuy thế tôi cũng thành thật hoài nghi liệu người ta hiểu được cái điểm mấu chốt của sự tu tập tứ niệm xứ. Nó vẫn là một điều nhồi sọ trong khi người ta phụ thuộc về những gì chỉ dạy phải thực hành và đã sắp xếp hết mọi điều cho họ.
Bây giờ khi tôi đọc các bộ kinh và Abhidhamma (vi diệu pháp), tôi có thể hiểu được. Tôi biết được những gì đang được trình bày. Trước khi tu tập thiền, tôi đọc nhiều kinh điển nhưng không thể hiểu chúng thật sự muốn nói gì. Khi một người đang tu tập, người ấy thật sự thực sự nhận lấy giáo pháp của Đức Phật và thật sự quán chiếu bản thân. Khi một người xem xét bản chất của sự khổ, người này không nhận lấy sự định nghĩa của một ai đó nhưng đang nhận thức về kinh nghiệm ở bản thân (chỉ vào mình). Giáo pháp của Đức Phật trở nên rõ ràng, trong sáng khi người ta suy niệm về nó.

Chú thích:
[1] J. Krishamrurti The Only Revolution, New York: Harper & Row, 1970, trang 76.
[2] J. Krishnamurti; Freedom from the known, New York : Harper & Row, 1969, trang 10.
[3] J. Krishnamurti; The Awakening of Inlellgence, New York: Avon Books, 1975, trang 147 - 148.


Roger Wheeler